Diễn đàn Trái Tim Yên Bái 2024

 Quên mật khẩu
 Đăng ký
Xem: 2964|Trả lời: 10
Thu gọn cột thông tin

Ôn thi Văn THPT

[Lấy địa chỉ]
  • Tâm trạng hàng ngày
    Ngủ
    9-7-2012 10:42 PM
  • Đã viết: 10 ngày

    [LV.3]Spam 3

    Đăng lúc 20-6-2011 03:39 PM | Xem tất |Chế độ đọc

    Mời bạn đăng ký để giao lưu kết bạn nhé <3

    Bạn phải đăng nhập để xem được nội dung, nếu bạn chưa có tài khoản? hãy Đăng ký

    x

    Sóng - Xuân Quỳnh / "Vợ nhặt" của Kim Lân


    * Câu 1:

    ..."Ôi con sóng ngày xưa

    Và ngày sau vẫn thế

    Nỗi khát vọng tình yêu

    Bồi hồi trong ngực trẻ


    Trước muôn trùng sóng bể

    Em nghĩ về anh, em

    Em nghĩ về biển lớn

    Từ nơi nào sóng lên?


    Sóng bắt đầu từ gió

    Gió bắt đầu từ đâu?

    Em cũng không biết nữa

    Khi nào ta yêu nhau.


    Con sóng dưới lòng sâu

    Con sóng trên mặt nước

    Ôi con sóng nhớ bờ

    Ngày đêm không ngủ được.

    Lòng em nhớ đến anh

    Cả trong mơ còn thức...".

    (Sóng - Xuân Quỳnh)

    Anh (chị) hãy phân tích đoạn thơ trên để làm nổi rõ sức gợi cảm phong phú, bất ngờ của hình tượng "sóng" trong sự liên hệ, đối sánh với nhân vật trữ tình "em".

    * Câu 2.

    Anh (chị) hãy nêu tình huống "nhặt" vợ trong truyện "Vợ nhặt" của Kim Lân, từ đó nhận xét về thái độ của nhà văn đối với con người và thực trạng xã hội đương thời được bộc lộ qua tình huống truyện độc đáo này.

    HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

    Bài làm (Câu 1)

    "Sóng" là bài thơ tình tuyệt bút của Xuân Quỳnh (1942 - 1988). Bài thơ được viết theo thể ngũ ngôn trường thiên gồm có 38 câu thơ. Qua hình tượng "sóng", Xuân Quỳnh đã thể hiện niềm khao khát của người thiếu nữ muốn được yêu, được sống trong một tình yêu hạnh phúc thuỷ chung.

    Bốn khổ thơ dưới đây trích trong phần đầu bài thơ. Hình tượng "Sóng" trong sự liên hệ đối sánh với nhân vật trữ tình "em" đã đem đến cho tâm hồn ta bao gợi cảm phong phú bất ngờ:

    "Ôi con sóng ngày xưa

    ..................................

    Lòng em nhớ đến anh

    Cả trong mơ còn thức".

    Sóng là hiện tượng muôn đời của đại dương bao la. Còn vũ trụ, đất trời thì còn có đại dương; đại dương còn thì còn "muôn trùng sóng bể". Sóng là sức sống vĩnh hằng, kì diệu của biển, trường tồn trong dòng chảy thời gian: "Ôi con sóng ngày xưa - Và ngày sau vẫn thế". Từ "ôi" cảm thán cất lên đầy xúc động ngây ngất của một nỗi niềm. Sóng của biển cũng như tình yêu là chuyện muôn đời của lứa đôi, là "khát vọng" của trai gái xưa nay. Sóng reo, sóng vỗ trên biển cả mênh mông cũng như "con sóng" tình yêu biến hoá vô cùng, lúc thì "dữ đội và dịu êm", lúc thì "ồn ào và lặng lẽ", làm cho trái tim tuổi trẻ rung động, xao xuyến, "bồi hồi":

    "Nỗi khát vọng tình yêu

    Bồi hồi trong ngực trẻ".

    Hình tượng "sóng" trong những vần thơ ngọt ngào thiết tha đầy gợi cảm mang tính nhân văn. "Trước muôn trùng sóng bể" của đại dương mênh mông, lớp lớp sóng liên hồi, vô tận, thiếu nữ "bồi hồi" nghĩ về quy luật của sự sống, về sự trường tồn của đại dương, về nguyên nhân kì diệu nào mà có "sóng lên". Rồi thiếu nữ bâng khuâng nghĩ về mối nhân duyên của mình, về tình yêu của "em" và "anh". Điệp ngữ: "Em nghĩ về... Em nghĩ về...", kết hợp với câu hỏi tu từ: "Từ nơi nào sóng lên?" đã làm cho giọng thơ nồng nàn, say đắm, cảm xúc bâng khuâng triền miên dào dạt dâng lên. Hình tượng "sóng" và sự liên tưởng phong phú được diễn tả một cách thi vị:

    "Trước muôn trùng sóng bể

    Em nghĩ về anh, em

    Em nghĩ về biển lớn

    Từ nơi nào sóng lên?".

    Hỏi sóng rồi hỏi gió: "Gió bắt đầu từ đâu?". Rồi thiếu nữ lại tự hỏi trái tim mình, tự hỏi lòng mình: "Khi nào ta yêu nhau". Đó là tâm trạng của "em", của bất cứ chàng trai cô gái nào trong tình yêu. Và phải là mối tình đầu mới có câu hỏi ấy. Tình yêu đã đến với "em" tự bao giờ, nhưng cái khoảnh khắc "thắm lại" của hai tâm hồn "anh" và "em", đâu dễ trả lời. Ông chúa thơ tình Xuân Diệu dã viết: "Làm sao cắt nghĩa được tình yêu"... Tuy không trả lời được câu hỏi: "Khi nào ta yêu nhau?", nhưng cái khoảnh khắc thần tiên của mối tình đầu mãi mãi được ghi sâu trong lòng người:

    "Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy

    Nghìn năm chưa dễ đã ai quên?".

    (Thế Lữ)

    Sức gợi cảm của hình tượng "sóng" thật phong phú và bất ngờ. Sóng tồn tại trong trạng thái "động", trong mọi không gian "dưới lòng sâu" hay "trên mặt nước", tầng tầng lớp lớp "muôn trùng sóng bể". Có sóng ngầm và nhấp nhô sóng biếc. Sóng được nhân hóa, sóng thao thức suốt đêm ngày trong mọi thời gian: "Sóng nhớ bờ", trong mọi trạng thái: "Sóng không ngủ được". Sóng được cảm nhận bằng thính giác, bằng thị giác, bằng tri giác và cả bằng tâm hồn. Hình tượng "sóng" càng trở nên thơ mộng gợi cảm:

    "Con sóng dưới lòng sâu.

    Con sóng trên mặt nước

    Ôi con sóng nhớ bờ

    Ngày đêm không ngủ được".

    Cấu trúc song hành, đối xứng: "dưới lòng sâu // trên mặt nước", "ngày // đêm", "nhớ bờ // không ngủ được" và điệp ngữ "con sóng" đã làm cho ngôn ngữ thơ cân xứng hài hoà, âm điệu nhạc điệu thơ nhịp nhàng, uyển chuyển, say đắm và ngọt ngào. Nhạc của thơ, vị ngọt tình yêu như được hòa quyện trong không gian, trong thời gian, và cả trong lòng người.

    Xuân Quỳnh có lúc mượn "thuyền" và "biển" làm ẩn dụ để nói lên nỗi nhớ thương của lứa đôi:

    "Những ngày không gặp nhau

    Biển bạc đầu thương nhớ

    Những ngày không gặp nhau

    Lòng thuyền đau rạn vỡ..."

    ("Thuyền và biển")

    Từ hiện tượng "sóng nhớ bờ", nữ sĩ liên tưởng đến nỗi nhớ "em nhớ đến anh", một nỗi nhớ da diết, triền miên, bồi hồi khôn xiết kể, cả trong cõi thực và cả trong cơn mơ, trong ý thức và cả trong tiềm thức:

    "Lòng em nhớ đến anh

    Cả trong mơ còn thức".

    Sóng là quy luật vận động của vũ trụ, của đại dương. Tưởng tượng "Sóng nhớ bờ" rồi liên hệ, đối sánh với "em", với nỗi niềm "lòng em nhớ đến anh ..." thật bất ngờ, thú vị. Ca dao nói nhiều về nỗi nhớ của trai gái làng quê. Có nỗi nhớ day dứt khôn nguôi: "Nhớ ai nhớ mãi thế này? - Nhớ đêm quên ngủ, nhớ ngày quên ăn". Có nỗi nhớ bồn chồn, ngẩn ngơ: "Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ - Nhớ ai ai nhớ, bây giờ nhớ ai". Có nỗi nhớ bồi hồi: "Nhớ ai bổi hổi bồi hồi - Như đứng đống lửa, như ngồi đống than". Qua đó, ta mới cảm thấy nỗi nhớ của "em", nhân vật trữ tình trong bài thơ "Sóng": "Lòng em nhớ đến anh - Cả trong mơ còn thức" là sâu sắc, bất ngờ, mới mẻ.

    Năm 1962, thi sĩ Xuân Diệu viết bài thơ tình "Biển", trong đó hình tượng "sóng" là ẩn dụ về chàng trai đa tình, yêu say đắm, nồng nhiệt:

    "Anh xin làm sóng biếc

    Hôn mãi cát vàng em

    Hôn thật khẽ thật êm

    Hồn êm đềm mãi mãi"...

    Bài thơ "Biển" là một thử thách lớn đối với Xuân Quỳnh. Năm năm sau, bài "Sóng" ra đời, ẩn dụ "sóng" nói về thiếu nữ trong mối tình đầu với bao phẩm chất tốt đẹp. Đó là sáng tạo, có thể nói là "bất ngờ".

    Người thiếu nữ trong bài thơ "Sóng" đã "tự hát" về nỗi khao khát được yêu thương, được sống thuỷ chung trong tình yêu hạnh phúc. Hình tượng "sóng" gợi lên bao cảm xúc mạnh mẽ, nồng nàn, phong phú và bất ngờ. Sóng thật mãnh liệt. Em thật nồng nàn say mê bởi lẽ với em thì tình yêu là "khát vọng".

    Bài làm (Câu 2)

    Viết về nạn đói ăn năm Ất Dậu, "Vợ nhặt" của Kim Lân là một truyện ngắn đặc sắc nhất, độc đáo nhất trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại.

    Với một vốn sống phong phú về nông thôn và người nhà quê, với một tấm lòng nhân hậu bao dung, câu chuyện anh trai cày thô kệch "nhặt" được vợ, đã được tác giả kể lại một cách cảm động, đậm đà. Bút pháp phân tích tâm lí nhân vật và xây dựng tình tiết - cốt truyện đầy kịch tính là giá trị tư tưởng và nghệ thuật đích thực được thể hiện qua tình huống "nhặt" vợ của anh cu Tràng.

    1. Tóm tắt tình huống "nhặt" vợ:

    Anh cu Tràng, mồ côi bố, ở với mẹ già tại xóm ngụ cư. Nhà nghèo, hắn làm nghề kéo xe bò thuê. Con mắt "nhỏ tí", bộ mặt "thô kệch", cái đầu "trọc nhẵn", lại có tật "vừa đi vừa nói lảm nhảm...". Cứ tưởng rằng hắn sẽ nằm suông đến già. Ai ngờ... chỉ "tầm phơ tầm phào đâu có hai bận", một câu hò rất phong tình, bốn bát bánh đúc ngoài chợ tỉnh, chẳng cheo cưới gì thế mà hắn đã "nhặt" được vợ. Đó là một cô gái, áo quần rách như tổ đỉa, nhưng đã "liếc mắt cười tít" làm cho Tràng "thích lắm".

    Tràng "nhặt" được vợ khi trận đói đã và đang diễn ra vô cùng khủng khiếp. Người chết đói như ngả rạ. Từng đám người chạy đói "xanh xám như những bóng ma". Mùi gây của xác người... Quạ bay vẩn trên nền trời như những đám mây đen, "cứ gào lên từng hồi thê thiết". Xóm ngụ cư "xác xơ heo hút". Tràng "nhặt" vợ mà cảm thấy "chợn" vì giữa trận đói, nuôi cái thân mình còn khó mà "lại còn đèo bòng". Trên đường dẫn "vợ mới vợ miếc" về nhà, hắn "phớn phơ" khác thường, "tủm tìm cười nụ", "hai mắt thì sáng lên lấp lánh",... Còn thị thì "thèn thẹn hay đáo để".

    Tràng "nhặt" được vợ đã làm cho cả xóm ngụ cư ngạc nhiên. Lũ trẻ con cong cổ gào lên: "Chông vợ hài". Có người "thở dài", có người "thì thầm" hỏi. Lại có người "cười lên rung rúc". Có người lo và thương cho Tràng: "Giời đất này còn rước cái của nợ đời về". Bà cụ Tứ, mẹ Tràng lại càng ngạc nhiên khi thấy một người đàn bà xa lạ "đứng ngay đầu giường" thằng con trai mình. Bà vừa tủi thân, vừa mừng vừa lo: "Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không". Tối "tân hôn" của Tràng đã có hai hào dầu thắp sáng, nhưng "tiếng khóc hờ tỉ tê" của những gia đình mới có người chết đói, nghe càng rõ trong đêm khuya.

    Mẹ chồng chỉ có một nồi cháo cám ăn mừng nàng dâu mới. Tiếng trống thúc thuế vẫn dội lên "dồn dập vội vã". Và trên đê Sộp những người đói ầm ầm kéo nhau đi, phía trước có lá cờ đỏ to lắm!

    2. Thái độ của nhà văn...

    Tình huống "nhặt" vợ đã được Kim Lân sáng tạo nên bằng cảm hứng nhân văn sâu sắc.

    a. Ông đã dành những tình cảm tốt đẹp nhất đối với con người nghèo khổ, hoạn nạn. Ông xót thương cho nỗi đau khổ của dân tộc trước thảm họa năm Ất Dậu "người chết như ngả rạ". Ông ái ngại cho một cô gái bị nạn đói cướp đi gần hết. Không còn tên tuổi. Không còn bố mẹ, anh chị em. Không gia đình quê hương. Mặt "xám xịt", người "gầy sọp", áo quần rách như tổ đỉa. Đói quá, mất đi vẻ duyên dáng, "cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc". Giá trị, phẩm giá của người con gái trở nên rẻ rúng đáng thương! Trước mắt thị là vực thảm, là chết đói, thị phải "theo trai", phải lấy Tràng...

    Kim Lân nhân hậu lắm. Ông đã tả cặp mắt, nụ cười của Tràng rất đẹp, rất vui. Ông đã phát hiện ra chút duyên thầm, nét nữ tính của thị. Cái "liếc mắt cười tít", câu mắng yêu và cái củng vào trán Tràng của thị trong tối tân hôn, được nhà văn diễn tả đầy ý vị. Hạnh phúc đến với Tràng, tuy muộn mằn, tuy phải "nhặt" mới có vợ, nhưng đáng tự hào và trân trọng biết bao. Anh đã mua hai hào dầu thắp sáng tối tân hôn, để xua tan cái tối tăm, nghèo khổ, cô độc, để mừng "vợ mới vợ miếc", để soi sáng hạnh phúc tương lai. Tình tiết hai hào dầu rất giàu ý nghĩa nhân đạo.

    Kim Lân đã ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của nhân dân lao động. Ông đã tả giọt nước mắt trong nỗi lo, niềm vui của người mẹ nghèo khi nhận nàng dâu mới. Niềm tin "ai giàu ba họ, ai khó ba đời"; nồi cháo cám đắng chát mà người mẹ già gọi là "chè khoán ngon đáo để", những câu chuyện vui, chuyện sau này của người mẹ chồng nói với con trai và con dâu lúc ăn cháo cám. Tất cả thể hiện một cách cảm động tình thương người, niềm tin đối với con người của tác giả "Vợ nhặt".

    b. Đối với thực trạng xã hội đương thời, thông qua tình huống Tràng "nhặt" vợ, Kim Lân căm thù lên án và vạch trần tội ác của Nhật - Pháp đã bắt dân ta nhổ lúa trồng đay, vơ vét sưu thuế, gây ra trận đói kinh khủng năm Ất Dậu 1945, làm hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói! Nạn đói đã hạ thấp giá trị con người. Chẳng cần cheo cưới, chỉ cần bốn bát bánh đúc mà người ta có thể "nhặt" được vợ.


    Qua tình tiết khi trống thúc thuế dồn dập dội lên, thì nàng dâu mới loan tin ở mạn Bắc Giang, Thái Nguyên, người ta không chịu đóng thuế, còn phá kho thóc của Nhật - chia cho người đói,... Và đám người đói kéo đi trên đê Sộp, phía trước là lá cờ đỏ to lắm bay phấp phới. Kim Lân đã thể hiện rất hay tình cảm của hàng triệu nông dân Việt Nam hướng về cách mạng. Cứu đói, cứu khổ, cứu đời và đem đến độc lập, tự do cho dân tộc chính là sự xuất hiện lá cờ đỏ ấy. Qua hình ảnh lá cờ đỏ, cảm hứng nhân đạo của truyện "Vợ nhặt" đã được nhân lên thành cảm hứng nhân văn tuyệt đẹp.ST

    Cảm ơn

    Số người tham gia 1Thanks +1 Thu lại Lý do
    Tý tuổi tý tởn + 1

    Xem tất cả

  • Tâm trạng hàng ngày
    Ngủ
    9-7-2012 10:42 PM
  • Đã viết: 10 ngày

    [LV.3]Spam 3

     Tác giả| Đăng lúc 20-6-2011 03:41 PM | Xem tất
    “Đôi mắt” - Nam Cao / “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên / "Đất nước" của Nguyễn Đình Thi



    * Câu 1.

    “Nhà văn Tô Hoài coi “Đôi mắt” là tuyên ngôn nghệ thuật của một thế hệ nhà văn như Nam Cao, Tô Hoài…”. (Văn 12, Tập 1, Phần Văn học Việt Nam. Sách chính lý hợp nhất năm 2000, NXB Giáo dục, trang 62).

    Anh (chị) hãy phân tích hai nhân vật Hoàng và Độ để làm sáng tỏ ý kiến trên.

    * Câu 2.

    Bình giảng đoạn thơ sau trong bài “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên:

    “Ơi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa

    Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường

    Con đã đi nhưng con cần vượt nữa

    Cho con về gặp lại Mẹ yêu thương.



    Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ

    Cỏ đón giêng hai chim én gặp mùa

    Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

    Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa”.

    (Theo SGK Văn học 12, Tập 1,

    NXB Giáo dục, 2001, tr. 120)

    * Câu 3.

    Bình giảng đoạn thơ sau trong bài thơ "Đất nước" của Nguyễn Đình Thi:

    "Ôi những cánh đồng quê... nhớ mắt người yêu".

    HƯỚNG DẪN BÀI LÀM

    Bài làm (Câu 1)

    1. Vài nét về tác phẩm.

    “Đôi mắt”, một trong những truyện ngắn xuất sắc đầu tiên của văn học kháng chiến được viết vào mùa xuân 1948, đánh dấu thời kì nhận đường, sự chuyển biến mạnh mẽ, chân thành của các nhà văn lớp trước. Nam Cao đặt ra một vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu với văn nghệ sĩ lúc đó: chỗ đứng và cách nhìn của họ trước cuộc cách mạng.

    “Đôi mắt” là bản tuyên ngôn nghệ thuật của lớp văn nghệ tiểu tư sản, khi đã được giác ngộ cách mạng thì quyết tâm đi theo và sẵn sàng phục vụ kháng chiến. Tuyên ngôn nghệ thuật này được thể hiện qua việc nhà văn xây dựng hai nhân vật Hoàng và Độ có hai cuộc sống, hai cách nhìn đối với người và thời cuộc khác hẳn nhau.

    2. Phân tích hai nhân vật Hoàng và Độ để làm sáng tỏ ý kiến của nhà văn Tô Hoài.

    Trong truyện ngắn của Nam Cao, quả nhiên đã có hai “đôi mắt” khác nhau cùng nhìn vào một hiện thực: cuộc Cách mạng tháng Tám và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Hoàng và Độ đều là nhà văn đã quen biết nhau. Trước hiện thực ấy, họ đã có cách nhìn khác nhau ở những điều cơ bản nhất.

    Nội dung tuyên ngôn nghệ thuật được thể hiện qua hai nhân vật trong tác phẩm. Đó là hai kiểu nghệ sĩ có hai cách nhìn khác nhau đối với quần chúng, đối với cán bộ công nông và đối với cuộc kháng chiến của dân tộc.

    a) Nhân vật Hoàng.

    - Thái độ đối với nông dân:

    + Hoàng một văn sĩ có tên tuổi, thuộc lớp đàn anh trong giới văn chương đến với cuộc kháng chiến như một người ngoài cuộc. Sống với những người ở nông thôn trong thời chiến, anh vẫn giữ nếp sống của một bậc trưởng giả: một dinh cơ riêng, cuộc sống vật chất đầy đủ… đóng khung trong sự giao thiệp ở một phạm vi hẹp.

    + Xuất thân là một nhà văn kiêm một tay chợ đen, Hoàng sống cách biệt hoàn toàn với những “người nhà quê”. Với đôi mắt của mình, Hoàng nhìn người nông dân, lực lượng đông đảo của cuộc kháng chiến, anh ta chỉ thấy toàn là những nét tiêu cực như sự dốt nát, kém cỏi về nhận thức, sự lố bịch nhiêu khê, thóc mách và đáng cười. Từ đó, anh ta bi quan, chán nản trước hiện thực cũng như triển vọng của cuộc kháng chiến của dân tộc. “Đôi mắt” phê phán quyết liệt một cách nhìn định kiến và thiếu thiện chí đối với người nông dân của lớp văn nghệ sĩ cũ mà Hoàng là tiêu biểu. Hoàng nhìn đời nhìn người một phía, ở riêng cái nhìn ấy thì Hoàng rất biết nhìn - phía không bản chất của người nông dân là “vô lối”, “ngố và nhặng xị”, từ ông chủ tịch đến anh dân quân, người thanh niên vác bó tre đọc thuộc lòng bài “ba giai đoạn” của cuộc kháng chiến như một con vẹt biết nói.

    Cách nhìn của Hoàng chỉ thấy hiện tượng mà không thấy bản chất yêu lao động và yêu nước của nông dân, không thấy cái “nguyên cớ đẹp đẽ bên trong” là tinh thần cách mạng của họ. Thái độ của Hoàng là giễu cợt trịch thượng, khinh bỉ, không chút tin tưởng ở lực lượng quần chúng. Hoàng tỏ thái độ khó chịu trước những con người nhà quê: “Tại sao họ nhiêu khê đến thế?…”. “Bây giờ gần họ, tôi quả là thấy không chịu được. Không chịu được”. Hoàng đả kích: “Nó là một anh hàng cháo lòng. Bán cháo lòng thì nó biết đánh tiết canh, chứ biết làm uỷ ban thế nào mà bắt nó làm uỷ ban”.

    - Thái độ với kháng chiến.

    + Hoàng không phải là người đối lập với cuộc kháng chiến. Nhưng vì đã hoàn toàn không tin ở quần chúng - lực lượng chủ yếu, nên bi quan, chỉ tin vào vai trò cá nhân lãnh tụ. Hoàng chỉ tin vào “ông Cụ”. Hoàng biểu thị sự khinh bỉ để rồi gần như là bế tắc: “Tôi bi lắm. Cứ quan sát kĩ thì rất nản”.

    + Sống trong vùng kháng chiến, nhưng Hoàng vẫn chỉ là người đứng ngoài cuộc, không tham gia vào bất kì một công việc gì, không quan hệ với những người dân xung quanh.

    + Từ đó dẫn đến thái độ dửng dưng với cuộc kháng chiến, tách mình khỏi sự nghiệp chung của dân tộc. Hoàng đứng ngoài cuộc kháng chiến sôi động, thiếu sự gần gũi với nhân dân. “Đôi mắt” của anh ta là đôi mắt của kẻ nhìn bề trên xuống, tất yếu không hiểu nổi “người nhà quê”, không thể hiểu cuộc kháng chiến. Hoàng vẫn giữ đôi mắt cũ đầy định kiến, nên càng quan sát lắm chỉ càng thêm chua chát và chán nản.

    b) Nhân vật Độ.

    - Độ cũng nhận thấy những hạn chế ở người nông dân, nhất là trước Cách mạng, phần đông “dốt nát, nheo nhếch, nhát sợ, nhịn nhục”. Nhưng từ ngày cách mạng bùng nổ, Độ nhận ra được điều căn bản và quan trọng là “người nông dân có thể làm cách mạng mà làm cách mạng hăng hái lắm”. Độ đã không dừng lại ở cái bề ngoài đáng buồn cười của quần chúng mà nhìn thấy cái phẩm chất đẹp đẽ bên trong là lòng yêu nước, hăng hái tham gia kháng chiến, can đảm quên mình trong chiến đấu của người nông dân.

    Độ hòa mình vào cuộc sống đời thường của quần chúng. Với “đôi mắt” của mình, anh nhìn người nông dân một cách thiện cảm, thấy được những nét bản chất của họ. Anh thấy được ở họ sức mạnh, niềm tin, khả năng và quyết tâm cho sự thắng lợi của cuộc kháng chiến. Anh tin vào vai trò của quần chúng nhân dân đối với lịch sử.

    Độ nhìn nhận người nông dân một cách đúng đắn: “Té ra người nông dân nước mình vẫn còn có thể làm cách mạng mà làm cách mạng hăng hái lắm. Tôi đã đi theo họ đánh phủ”… “lúc ra trận xung phong can đảm lắm”.

    Đôi mắt của Độ nhìn cách mạng là nhìn thấy, nhận thấy một cuộc cách mạng vĩ đại đổi đời cho Tổ quốc, cho dân tộc; người làm nên cuộc cách mạng ấy, là hàng triệu đồng bào ta, trong đó có một lớp văn nghệ sĩ đã tự nguyện gắn bó đứng trong hàng ngũ kháng chiến.

    3. Kết luận.

    - Thông qua hai nhân vật Hoàng và Độ, Nam Cao đã khái quát lên hai cách nhìn cuộc sống khác nhau, nhìn đời khác nhau.

    - “Đôi mắt” của Nam Cao chẳng những không cũ đi mà vẫn còn nóng hổi tính thời sự. “Đôi mắt” để nhìn nhận là thiên chức của nhà văn. “Đôi mắt” trở thành tuyên ngôn nghệ thuật là như vậy!

    Bài làm (Câu 2)

    Các ý chính:

    1. Vài nét về tác phẩm.

    - Hoàn cảnh xuất xứ của bài thơ.

    - Vị trí của đoạn thơ bình giảng.

    + Khổ thơ thứ 5 và thứ 6 của bài thơ “Tiếng hát con tàu”.

    + In trong tập thơ “Ánh sáng và phù sa” - của Chế Lan Viên xuất bản năm 1960.

    - Trích dẫn nguyên văn đoạn thơ cần bình giảng.

    2. Bình giảng đoạn thơ.

    a) Ý nghĩa lớn lao của cuộc kháng chiến đối với mỗi con người, dân tộc, thời đại nói chung và đối với người nghệ sĩ nói riêng.

    - Cuộc kháng chiến đã lùi xa, nhưng những ngày kháng chiến gian khổ và hào hùng không thể nào quên, không thể phai mờ.

    - Đối với văn nghệ sĩ, cuộc kháng chiến của dân tộc chính là thời kì diễn ra sự chuyển biến lớn lao của cuộc đời và con đường sáng tạo nghệ thuật của họ, trên hành trình về với cuộc sống, về với nhân dân, dân tộc và thời đại.

    - Trở về cuộc kháng chiến cũng chính là trở về với cội nguồn của những kỉ niệm đẹp đẽ trong lòng mình, đánh thức dậy không chỉ với những hoài niệm quá khứ mà cả hiện tại và tương lai. Giá trị đích thực của cuộc kháng chiến cả về ý nghĩa của cuộc sống và cả về ý nghĩa nghệ thuật. Chế Lan Viên đã rút ra triết lý tổng quát:

    “Ơi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa

    Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường”.

    b) Khát vọng trở về với nhân dân - ngọn nguồn của cuộc đời.

    - Trở về với nhân dân là lẽ sống, là đạo lí.

    - Là niềm vui - niềm hạnh phúc.

    - Là trở về với cội nguồn của sự sống sáng tạo nghệ thuật.

    c) Nghệ thuật.

    - Các thủ pháp xây dựng hình ảnh, cách sử dụng từ ngữ:

    + “Soi đường”, “cần vượt nữa”.

    + Từ “Mẹ” biết bao yêu thương trìu mến, bởi vì Mẹ sinh thành đời ta, nuôi ta lớn lên trong tình yêu thương vô bờ. Nghĩa của từ “Mẹ” ở đây dùng với ý nghĩa khái quát. Đó chính là đất nước, nhân dân vĩ đại.

    - Biện pháp nghệ thuật so sánh tu từ (tác giả sử dụng hình ảnh so sánh liên tiếp, để khơi sâu mở rộng thêm ý nghĩa của việc trở về với nhân dân cũng chính là trở về với lòng mình, trở về với cội nguồn của sáng tạo nghệ thuật).

    + “Như ngọn lửa”.

    + “Như nai về suối cũ”.

    + “Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa”.

    - Những hình ảnh thơ dung dị lấy từ đời sống của tự nhiên và xã hội, tràn đầy sức sống trẻ trung, thấm đẫm trong tình yêu thương trìu mến (nai về suối cũ; cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa, Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa).

    3. Kết luận.

    - Nghệ thuật phải bắt nguồn từ cuộc sống của nhân dân lao động. Văn học nghệ thuật thoát li cuộc sống của nhân dân lao động thì thứ văn học ấy sẽ không có sức sống.

    - Đoạn thơ hay và đẹp: cảm xúc chan hòa với chất trí tuệ, vần điệu và hình tượng sáng tạo.

    Bài làm (Câu 3)

    Có những vần thơ xao xuyến bồi hồi. Có những vần thơ ngọt ngào say đắm. Lại có những vần thơ đĩnh đạc, hào hùng. Còn có lúc, ta bị ám ảnh khôn nguôi trước những vần thơ yêu thương và căm giận:

    "Ôi những cánh đồng quê chảy máu,

    Dây thép gai đâm nát trời chiều

    Những đêm dài hành quân nung nấu

    Bỗng bốn chồn nhớ mắt người yêu".

    ("Đất nước" - Nguyễn Đình Thi)

    "Đất nước" là bài thơ sáng giá nhất của Nguyễn Đình Thi viết trong kháng chiến chống Pháp, cũng là bài thơ kiệt tác viết về đề tài quê hương đất nước của nền thơ ca Việt Nam hiện đại. Nó đã được tác giả thai nghén và hình thành trong một quá trình lịch sử khá dài (1948-1955). Các áng thơ "Đêm mít tinh", "Sáng mát trong như sáng năm xưa" - đã khơi nguồn cảm hứng để Nguyễn Đình Thi khám phá và thể hiện tuyệt đẹp tình yêu nước một cách nồng nàn, say đắm.

    "Đất nước" như một phức điệu đa thanh nói về cảm xúc mùa thu quê hương xưa và nay. Là tiếng nói say mê về cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, hùng vĩ, là niềm tự hào về truyền thống bất khuất của dân tộc anh hùng. Nó là tiếng nói xót xa, căm giận quân xâm lược đang giày xéo đất nước thân yêu. Phần cuối bài thơ biểu lộ niềm kiêu hãnh của người chiến sĩ trước tư thế chiến đấu và chiến thắng lẫm liệt hiên ngang "rũ bùn đứng dậy sáng lòa!" của đất nước. Đoạn thơ 4 câu trên đây trích trong phần thứ ba của bài "Đất nước".

    Nhà thơ - người chiến sĩ - như đang nắm chắc tay súng "lắng hồn núi sông ngàn năm", lắng nghe những âm vang của lịch sử, giống nòi "rì rầm trong tiếng đất" tự nghìn xưa "vọng nói về": những Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa... bất tử! Từ quá khứ nghìn xưa trở về hiện tại, câu thơ vút lên nghẹn ngào, đau đớn:

    "Ôi những cánh đồng quê chảy máu".

    Cảnh tượng đau thương mà nhà thơ nói đến là mùa thu 1948, khi cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược của nhân dân ta đang diễn ra vô cùng ác liệt! Nhiều đô thị, nhiều vùng nông thôn rộng lớn của đất nước ta đang bị giặc Pháp chiếm đóng và giày xéo "Đương làng bao xương máu tơi bời - Vườn không nhà trống tàn hoang" ("Làng tôi" - Văn Cao). "Những cánh đồng quê chảy máu" - hình ảnh hóan dụ tượng trưng cho đất nước thân yêu, những làng xóm thân thuộc đang bị quân thù càn quét, bắn giết dã man. Máu những người nông dân hiền lành đã chảy ngập đường thôn, luống cày... dưới làn bom đạn của lũ cướp nước. Xưa kia thuở thanh bình, đất nước là "những cánh đồng thơm mát...", "xanh xanh bãi mía bờ dâu...", thì kể từ khi "súng giặc đất rền", đã trở nên tang thương, điêu tàn với "những cánh đồng quê chảy máu". Nhân dân ta bị giặc Pháp tàn sát dã man. Hai chữ "chảy máu" lên án tội ác và chính sách tam quang của quân cướp nước: giết sạch, cướp sạch, đốt phá sạch! Từ "ôi" cảm thán diễn tả nỗi lòng đau đớn, xót xa không thể nào kể xiết!

    Từ cái nhìn toàn cảnh về không gian đau thương, về "những cánh đồng quê chảy máu", nhà thơ đứng lặng nhìn về các phía chân trời. Một nét vẽ thậm xưng, độc đáo, rất sáng tạo:

    "Dây thép gai đâm nát trời chiều".

    Quân giặc tàn bạo ra sức bắn giết, càn quét, chiếm đất, dồn dân. Đồn giặc như nấm độc mọc lên khắp mọi nơi. "Dây thép gai" cũng là một hình ảnh hoán dụ nói về bốt đồn giặc, sự chiếm đóng dã man của quân cướp nước. Những núi thép gai, những hàng rào dây thép gai tua tủa nhọn hoắt bao bọc xung quanh đồn giặc không chỉ nhằm chống đỡ những trận tấn công vũ bão của quân đội ta, mà còn "đâm nát trời chiều". Một cách nói thậm xưng đầy ấn tượng về tội ác và âm mưu cướp nước của giặc Pháp. "Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên" là những chiều thôn trang êm đềm có "cánh cò trắng vẫy mênh mông", có "tiếng ốc xa đưa vẳng trống đồn", có tiếng sáo mục đồng dẫn trâu về thôn... Nhưng nay còn đâu nữa? Cảnh trời chiều quê hương đã và đang bị dây thép gai đồn giặc "đâm nát". Nỗi đau từ đất trời như đang cứa nát, đâm nát lòng người!

    Ở phần đầu bài thơ, Nguyễn Đình Thi nói về cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp và hùng vĩ của đất nước với trời xanh, núi xanh, những cánh đồng quê thơm mát, những ngả đường bát ngát, những dòng sông đỏ nặng phù sa - và tất cả đều "của chúng ta". Nhưng từ khi giặc tràn tới, đồng quê thì "chảy máu", trời chiều thôn trang thì bị dây thép gai "đâm nát", biết bao đau đớn, căm hờn! Tác giả "Đất nước" tạo nên sự đối lập, tương phản đầy ấn tượng: xưa và nay, thanh bình với chiến tranh, hữu tình nên thơ với điêu tàn, tang tóc - để lên án tội ác dã man của giặc Pháp mà trời không thể dung tha, người người đều căm giận! Sự kết hợp tài tình các biện pháp tu từ hoán dụ, cảm thán, thậm xưng, và tương phản đã tạo nên vần thơ giàu hình tượng và biểu cảm. Qua đó, ta cảm nhận được cốt cách thi sĩ của Nguyễn Đình Thi: hồn thơ đẹp, tài hoa, cảm xúc dồn nén, ngôn từ xác thực, hình tượng sáng tạo. Nhà thơ đã dẫn hồn người đọc sống và cảm với hiện thực đất nước một thời khói lửa, mở rộng cho ta một trường liên tưởng về không gian nghệ thuật để mọi người cùng suy ngẫm về dòng chảy lịch sử và hành trình bi tráng của dân tộc. Và đó cũng là cái giá của độc lập tự do để ta nhớ và tự hào!

    Gần 150 năm về trước, trong bài thơ "Chạy giặc", Nguyễn Đình Chiểu đã căm giận lên án quân xâm lược:

    "Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây...

    (...)  Bến Nghé của tiền tan bọt nước,

    Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây...".

    Có biết bao câu thơ xúc động làm sôi sục lòng người những năm tháng đất nước "ra trận":

    "Quê hương ta từ ngày khủng khiếp

    Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn

    Ruộng ta khô

    Nhà ta cháy

    Chó ngộ một đàn

    Lưỡi dài lê sắc máu

    Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang...".

    (Bên kia sông Đuống - Hoàng Cầm).

    Đó là những vần thơ một thời tạc vào thời gian và lòng người để ta nhớ mãi.

    Câu thơ thứ ba nói lên tâm trạng người chiến sĩ ra trận:

    "Những đêm dài hành quân nung nấu".

    Câu một nói về "những cánh đồng quê chảy máu", câu ba tứ thơ chỉ rõ "Những đêm dài hành quân nung nấu", từ không gian đau thương mở ra thời gian căm giận, không chỉ một đêm, năm mười đêm mà là "những đêm dài"... Cấu trúc song hành, điệp lại hai lần chữ "những", chữ "nấu" vần với chữ "máu" (vần chân) đã tạo nên giai điệu, nhạc điều trầm hùng đang nung nấu tâm hồn người chiến sĩ xung kích trên đường hành quân ra trận. "Nung nấu" vì căm thù dữ dội. Lòng súng nóng bỏng, lưỡi lê nhọn hoắt căm thù! Mối thù đối với giặc Pháp cướp nước nung nấu, ngùn ngụt bốc lửa, sôi sục trong lòng, không chỉ trong một thời gian hữu hạn mà kéo dài trong thời gian vô hạn "Những đêm dài hành quân nung nấu". Hai chữ "nung nấu" biểu hiện sâu sắc tình yêu nước của "những người áo vải - Đã đứng lên thành những anh hùng!".

    Càng nung nấu quân xâm lược bao nhiêu thì càng yêu quê hương đất nước bấy nhiêu. Người lính ra trận nung nấu, sôi sục căm thù giặc khi nhìn thấy đất nước tang tóc, điêu tàn "những cánh đồng quê chảy máu...", nhìn thấy "những bóng thù hắc ám", những đồn giặc mọc lên với bao "dây thép gai đâm nát trời chiều". Câu thơ thứ tư tiếp theo là một nét vẽ, nét khắc chiều sâu tâm hồn người chiến sĩ ra trận; nhiều khám phá và sáng tạo:

    "Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu".

    "Nung nấu" căm thù và "bồn chồn nhớ" là hai nét biểu hiện của một tâm trạng, làm nên sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của anh Vệ quốc quân thời kháng chiến 9 năm đánh Pháp. Anh ra trận với sức mạnh căm thù giặc, với tình yêu nước thương dân, với bao nỗi nhớ. Nhớ luống cày mái rạ, nhớ bãi mía nương dâu, nhớ giếng nước gốc đa, nhớ "người tình chung"... "nhớ mắt người yêu". "Mắt người yêu" cũng là một hình ảnh hóan dụ rất đắt diễn tả hình bóng quê hương, vẻ đẹp duyên dáng "người tình chung" sau lũy tre làng mà anh nhớ lắm:

    "Vầng trán em mang trời quê hương

    Mắt em như giếng nước thôn làng

    Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm

    Em đã bao ngày em nhớ thương?..."

    (Mắt người Sơn Tây - Quang Dũng)

    "Nhớ mắt người yêu" với bao kỉ niệm đẹp một thời trai trẻ. "Xa em năm nhớ - gần em mười thương". Chàng trai cày ngày xưa nhớ quê nhà là nhớ hương vị đậm đà "bát canh rau muống, quả cà giòn tan", là "nhớ ai tát nước bên đường hôm nao". Anh bộ đội Cụ Hồ giã từ nơi chôn nhau cắt rốn, nơi "nước mặn đồng chua", nơi "đất cày lên sỏi đá", có người nhớ thầm: "Bầm ra ruộng cấy bầm run - Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non". Có anh lính nhớ "người vợ trẻ - mòn chân bên cối gạo canh khuya". Chàng lính trẻ hào hoa trong đoàn binh Tây Tiến thì lại "Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm". Có trăm nghìn nỗi nhớ quê, nhớ nhà, nhớ người thân thương: "Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét - Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng" (Chế Lan Viên), v.v...

    Trở lại câu thơ "bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu", hai chữ "bồn chồn" nghĩa là nóng ruột, không yên tâm (Từ điển tiếng Việt); diễn tả nỗi nhớ xôn xao, rung động, dâng lên như những đợt sóng vỗ mãi trong lòng. Đã có nỗi nhớ "bổi hồi bồi hồi". Đã có sự vấn vương "không yên một bề". Đã có tâm tình khao khát "nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai...". Câu thơ "Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu" là một nét vẽ rất đẹp thể hiện bút pháp tài hoa của Nguyễn Đình Thi. "Nhớ" là cảm hứng nhiều màu sắc và dáng vẻ đã làm nên những câu thơ hay, những vần thơ đẹp của Nguyễn Đình Thi trong tập thơ "Người chiến sĩ":

    ... "Anh yêu em như anh yêu đất nước

    Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần

    Anh nhớ em mỗi bước đường anh bước

    Mỗi tối anh nằm mỗi miếng anh ăn"...

    (Nhớ)

    Trong cái chung nhớ nước, nhớ "nguồn thiêng ông cha" (Hữu Loan), lại có cái riêng "bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu". Có nỗi hờn "nung nấu", có nỗi nhớ "bồn chồn" nên mới có sức mạnh chiến đấu và niềm tin thắng trận: "Anh lại tìm em - Em mặc yếm thắm - Em thắt lụa hồng - Em đi trẩy hội non sông - Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh" (Hoàng Cầm).

    Tình cảm là cái gốc của thơ ca, là ngọn nguồn sáng tạo của thơ ca. Thơ chỉ đẹp khi thơ ca hút màu mỡ, phù sa trong lòng đất - hiện thực cuộc sống - mà nảy mầm xanh tươi, đơm hoa kết trái dâng hương thơm, vị ngọt cho đời. Đoạn thơ của Nguyễn Đình Thi như một bông hoa đẹp trong cành hoa đẹp đã mang hơi thở nóng hổi của thời đại, mang tình yêu mãnh liệt của đất nước và con người Việt Nam trong ba ngàn ngày khói lửa.

    Đọc đoạn thơ trên, ta cảm nhận được phần nào vẻ đẹp phong cách nghệ thuật của Nguyễn Đình Thi, một hồn thơ giàu cá tính sáng tạo. Hiện thực chiến tranh: đất nước điêu tàn, dân tộc đau thương trong bom đạn quân thù đã được diễn tả một cách tuyệt vời qua những vần thơ hàm súc, biểu cảm và giàu hình tượng.

    "Cánh đồng quê chảy máu", "Dây thép gai đâm nát trời chiều" là những hình ảnh thơ mới mẻ, độc đáo và hay. "Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu" là một hình ảnh mang tính kế thừa sáng tạo, thể hiện một hồn thơ chiến sĩ cho ta nhiều rung cảm thấm thía.

    Đọc "Đất nước" của Nguyễn Đình Thi, tâm hồn ta được bồi đắp bao tình cảm đẹp trở nên trong sáng và phong phú, để ta yêu, để ta nhớ, ta sống lại và tự hào về những năm tháng hào hùng và oanh liệt với ngọn lửa Điện Biên thần kì của đất nước và dân tộc trong thời đại Hồ Chí Minh.
  • Tâm trạng hàng ngày
    Ngủ
    9-7-2012 10:42 PM
  • Đã viết: 10 ngày

    [LV.3]Spam 3

     Tác giả| Đăng lúc 20-6-2011 03:41 PM | Xem tất
    Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh / “Thơ duyên” của Xuân Diệu



    * Câu 1.

    Trình bày những nét chính về sự nghiệp văn học của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh để thấy rõ sự đóng góp lớn lao của Người đối với nền văn học nước nhà.

    * Câu 2.

    Bình giảng khổ đầu trong bài “Thơ duyên” của Xuân Diệu:

    “Chiều mộng hòa thơ trên nhánh duyên

    Cây me ríu rít cặp chim chuyền.

    Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá.

    Thu đến - nơi nơi động tiếng huyền”.

    (Theo sách Văn học 11, Tập 1, Phần Văn học Việt Nam,

    sách chỉnh lý hợp nhất năm 2000, NXB Giáo dục).

    * Câu 3.

    Tiền tài và hạnh phúc

    * Câu 4.

    "Có ba điều làm hỏng một con người: rượu, tính kiêu ngạo và sự giận dữ". Em suy nghĩ như thế nào về ý kiến đó.

    HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

    Bài làm (Câu 1)

    Các ý chính:

    1. Giới thiệu chung.

    - Về tác giả Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.

    - Về sự nghiệp văn học của Người.

    2. Sự nghiệp văn học của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.

    a) Văn xuôi.

    - Văn chính luận.

    + Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) là bản án tố cáo trực diện chế độ thực dân Pháp, và nói lên nỗi khổ đau của người dân xứ thuộc địa.

    + “Tuyên ngôn Độc lập” (1945) là áng văn hùng hồn, là văn kiện chính trị có giá trị lịch sử lớn lao tuyên bố quyền độc lập của dân tộc Việt Nam, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

    + “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” (1946) là tiếng gọi non sông trong giờ phút thử thách đặc biệt.

    b) Văn xuôi nghệ thuật: truyện, kí.

    “Lời than vãn của bà Trưng Trắc” (1922), “Vi hành” (1923), “Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu” (1925),…

    Truyện kí của Người thường dựa trên sự kiện có thật rồi hư cấu, tái tạo để thực hiện dụng ý nghệ thuật, vừa mang tính trí tuệ vừa giàu tính chất hiện đại.

    b) Thơ ca.

    - Thơ ca tuyên truyền:

    “Ca thiếu nhi, Ca công nhân…” viết trong thời kì Việt Minh, thơ chúc Tết của Người mỗi độ xuân về… có sức động viên lớn.

    - Thơ trữ tình.

    + “Nhật kí trong tù” (sáng tác thời kì (1942 - 1943) Người bị bắt giam tại Quảng Tây - Trung Quốc) là tập thơ phản ánh sâu sắc, sinh động một tâm hồn lớn, một dũng khí lớn, một trí tuệ lớn của người chiến sĩ vĩ đại trong hoàn cảnh thử thách nặng nề giữa chốn lao tù.

    + Tập “Thơ Hồ Chí Minh” 1967 tuyển chọn 36 bài thơ Người viết trong nhiều thời điểm…

    3. Đánh giá về sự đóng góp của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh với nền văn học dân tộc.

    - Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta một di sản văn học quý giá.

    - Hồ Chí Minh đặt nền móng và mở đường cho nền văn học cách mạng.

    - Người đã chỉ rõ: Thơ văn là vũ khí sắc bén của cách mạng; văn nghệ sĩ là người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng.

    Bài làm (Câu 2)

    Các ý chính:

    1. Giới thiệu vài nét về Xuân Diệu và “Thơ duyên” (xuất xứ, nội dung bài thơ và vị trí đoạn trích).

    2. Nội dung chính của đoạn thơ: bức tranh toàn cảnh về một buổi chiều thu mộng đẹp với những âm thanh, hình ảnh, màu sắc và sự chuyển động của vạn vật tạo nên sự hòa quyện đến sống động của chiều thu. Đó là cái duyên hòa hợp của đất trời, cảnh vật.

    3. Khả năng sử dụng sáng tạo và đặc sắc về nghệ thuật ngôn từ (chú ý những từ ngữ “chiều mộng”, “nhánh duyên”, “đổ trời xanh ngọc”, “tiếng huyền”…), cách sử dụng vần, phụ âm, thanh điệu (cặp phụ âm “r”, “ch”…) độc đáo theo kiểu Xuân Diệu.

    4. Hồn thơ tinh tế, nhạy cảm nhìn vạn vật, cuộc đời bằng cặp mắt xanh non, bằng cả tâm hồn dạt dào cảm xúc tạo nên bức tranh chiều thu náo nức, trong sáng, tươi tắn và vui hiếm thấy trong thơ Xuân Diệu. Vạn vật trong thiên nhiên như có giao hòa, có duyên hòa hợp, có sự tương giao màu nhiệm.

    5. Đoạn thơ nói riêng và bài thơ nói chung có ảnh hưởng bởi thuyết tương giao của Bôđơle: cảnh vật tương giao với cảnh vật, con người tương giao với con người. Cảnh chiều thu của bài thơ vì thế rất đẹp, rất tình tứ và sống động, thể hiện rõ lòng yêu đời, yêu cuộc sống đến thiết tha, cuồng nhiệt của Xuân Diệu.

    Gợi ý bình giảng đoạn thơ

    "Thơ duyên" - một thi đề rất thơ. Cái "duyên" được thi sĩ nói đến là sự tương giao nhiệm mầu của vũ trụ, thiên nhiên và con người, trước hết là những chàng trai, cô gái "hồn xanh như ngọc bích".

    Một buổi chiều thu tuyệt đẹp - "chiều mộng" - êm ái, nhẹ nhàng như ru, tạo vật như đang "hòa thơ trên nhánh duyên". Nhành cây mềm mại đung đưa duyên dáng theo làn gió thu nhẹ giữa sương khói tà dương. "Con gió xinh thì thào trong lá biếc" ("Vội vàng"). Cả một trời thu "nơi nơi động tiếng huyền". Tiếng nhạc, tiếng đàn du dương, dịu ngọt như ru hồn người vào cõi mộng. Tiếng gió hoà điệu với tiếng chim ríu rít. Trên ngọn me "cặp chim" vừa chuyền cành vừa hót, biết bao âu yếm và yêu thương. Cây me cũng như cây sấu là hình ảnh thân thuộc của đường phố cổ Hà Nội. Ta như được sống lại phố cũ yêu thương của đất Tràng An hơn nửa thế kỷ trước. Đã từng biết "khúc nhạc thơm"; "khúc nhạc hường", giờ đây ta lại được thưởng thức "tiếng huyền" của buổi "chiều mộng":

    "Chiều mộng hòa thơ trên nhánh duyên,

    Cây me ríu rít cặp chim chuyền

    Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá

    Thu đến - nơi nơi động tiếng huyền".

    Cảnh thu có gió reo, chim hót. Còn có trời thu xanh trong, đẹp như ngọc; tất cả màu xanh ấy của trời thu như "đổ" xuống, như tràn qua muôn lá. Cỏ cây ánh ngời lên sắc ngọc với trời thu. Sắc ngọc ấy ai có thể quên? Sau này, thi sĩ Hàn Mặc Tử cũng viết trong bài "Đây thôn Vĩ Dạ": "Vườn ai mướt quá xanh như ngọc"... Màu ngọc của lá cũng là sắc thu làm nên cái hồn thu.

    (Rút trong cuốn "Cẩm nang Văn học")

    Bài làm (Câu 3)

    Thời đổi mới, nền kinh tế thị trường phát triển, các ngành nghề sản xuất và kinh doanh phát triển. Nền kinh tế thị trường nước ta tăng trưởng mạnh, năm sau hơn hẳn năm trước. Đất nước trên đà đổi mới, ngày một đổi thay toàn diện. Đời sống nhân dân ngày một khá hơn; tỉ lệ hộ nghèo, khó khăn ở vùng sâu, vùng xa được giảm đáng kể.

    Trong phong trào thi đua sản xuất và kinh doanh hiện nay đã xuất hiện nhiều doanh nhân trẻ, nhiều tỉ phú năng động và sáng tạo.Biệt thự mọc lên làm thay đổi bộ mặt các đô thị; nhiều gia đình mua sắm ô tô riêng, đi du lịch, cho con cái du học ở Mĩ, Pháp, Anh,… đi chữa bệnh ở nước ngoài,v.v...

    Trong bối cảnh ấy, bàn về vấn đề tiền tài và hạnh phúc thật có nhiều ý nghĩa.

    Tiền tài. tiền bạc, tiền của đều cùng chung một khái niệm. Ở đời, tiền tài có khi mang lại hạnh phúc, nhưng cũng có trường hợp chỉ mang lại sự đổ vỡ, bất hạnh.

    Tiền bạc là thước đo giá trị và phẩm hạnh. Ai tài giỏi sẽ làm được nhiều tiền. Trong khi lương công nhân chỉ được một hai triệu thì lương giám đốc có thể hàng chục triệu đồng. Đồng tiền do mồ hôi công sức, do chất xám mang lại thì thật quý giá và đáng tự hào. Sản xuất và kinh doanh làm giàu, ước mơ trở thành tỉ phú, được xã hội đồng tình, được khuyến khích và hoan nghênh. Ở nông thôn hiện nay đã xuất hiện nhiều hộ nuôi cá, nuôi tôm, chăn nuôi gia súc, trồng rau, trồng hoa, trồng lúa cao sản, phát triển ngành nghề thủ công, ... mà trở nên giàu có. Họ xây nhà, mua sắm, sống sung túc, sang trọng, tích cực tham gia phong trào cứu đói xoá nghèo, đóng góp các quỹ từ thiện, ... Họ được tôn vinh, được cộng đồng ca ngợi. Qua đó, ta thấy tiền tài đem lại hạnh phúc, tiền tài gắn liền với hạnh phúc.

    Nhưng tiền tài lại có mặt trái của nó. Mặt trái của tiền tài thật ghê gớm. Đồng bạc đâm toạc tờ giấy (Tục ngữ) Hoàng kim hắc nhân tâm (Cổ ngữ). Quan lại tham nhũng, cán bộ tham nhũng mà giàu có, mà xài sang, đối với loại người này, tiền tài đã làm cho chúng bị sa đoạ, chúng bị nhân dân coi khinh, bị pháp luật trừng trị. Chuyện bán tước mua danh, chuyện chạy chức chạy quyền lâu nay đã cho thấy mặt trái của đồng tiền đã làm tha hoá đạo đức con người một cách cực độ. Báo chí gần đây (tháng 5-2008) đưa tin ông Bí thư Cà Mau, ông Chủ tịch Cao Bằng "dính" đến hàng trăm triệu, hàng tỉ đồng...Thử hỏi, những con người này có còn là công bộc của dân nữa hay không?. Những vụ trọng án từng làm ồn ào dư luận một thời, dù có mờ đi theo thời gian, nhưng tất cả đều nói lên một sự thật: tiền tài không song hành với hạnh phúc. Càng hám danh lợi, tham lam bạc tiền thì càng bất hạnh. Đó là bài học đáng đời cho bất cứ ai.

    Bàn về tiền tài và hạnh phúc, chúng ta hãy cùng nhau nhắc lại, nhớ lại một đôi lời của các cụ ngày xưa, cũng là một cách ôn cố tri tân. Nguyễn Bỉnh Khiêm chê cười cái thói đời đen bạc:

    Còn bạc còn tiền còn đệ tử,

    Hết xôi hết rượu hết ông tôi.

    Nguyễn Công Trứ chế giễu:

    Tiền tài hai chữ son khuyên ngược,

    Nhân nghĩa đôi đường nước chảy xuôi!

    Nguyễn Khuyến hóm hỉnh châm biếm:

    Có tiền việc ấy mà xong nhỉ?

    Đời trước làm quan cũng thế a?

    Tóm lại, sống ở đời ai cũng muốn được giàu sang, có nhiều tiền của. Xã hội hiện nay đang khuyến khích người người làm giàu, nhà nhà làm giàu; làm giàu bằng tài năng, bằng sức lao động của bản thân mình. Biết làm ra tiền của, biết sử dụng tiền của, không thể vì tiền tài mà biến thành kẻ bất lương. Bàn về vấn đề tiền tài và hạnh phúc, ta càng cảm thấy bài học về cần, kiệm, liêm, chính của Bác Hồ dạy là vô cùng sâu sắc.

    Tuổi trẻ chúng ta hãy nỗ lực học giỏi, tu dưỡng đạo đức để mai sau bước vào đời đem tài năng phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, biết làm giàu trên cương vị một doanh nhân giỏi, một chuyên gia giỏi, một nhà quản lí tài năng, để trở nên giàu sang, để sống hạnh phúc và góp phần đem lại hạnh phúc cho cộng đồng. Chúng ta hãy hướng về mục tiêu dân giàu nước mạnh thì càng thấy rõ ý nghiã rộng lớn và sâu sắc của vấn đề tiền tài và hạnh phúc.

    Bài làm (câu 4)

    Do cách sống, thói quen sống mà con người trở thành tốt hay xấu. "Có ba điều làm hỏng một con người: rượu, tính kiêu ngạo và sự giận dữ" - ý kiến ấy đúng, sai như thế nào?

    1. Rượu có làm hỏng con người không? Loài người biết nấu rượu, chưng cất rượu và uống rượu đã khá lâu, có lẽ đã mấy nghìn năm. Rượu là một thứ thường được dùng trong các bữa cỗ, bữa tiệc. Rượu, hoa, trăng... là những thứ chơi tao nhã của các tao nhân mặc khách xưa nay. Bạn tri âm tri kỉ, lúc tâm sự, lúc hàn huyên không thể không có rượu, vì thế mới có câu:

    Tửu phùng tri kỉ thiên bôi thiểu,

    Nhân bất đồng tâm bán cú đa.

    Nói về thú thanh cao đọc sách và uống rượu, Nguyễn Trãi có  câu thơ:

    Sách một hai phiên làm bậu bạn,

    Rượu năm ba chén đổi công danh.

    (Tự thán - bài số 10, Quốc âm thi tập)

    Trong dân gian có rượu tăm, rượu đế, rượu quốc lủi. Nghe nói trong các siêu thị hiện nay ở nước ta có những chai rượu ngoại bán mấy trăm "đô", mấy triệu đồng. Qua đó, ta thấy rượu và uống rượu chưa hẳn đã làm hỏng người. Chỉ có kẻ nghiện rượu, suốt đêm ngày say tuý luý thì rượu mới làm hư hỏng con người. Kẻ nát rượu thường sống bê tha; lúc say rượu thì tính nết trở nên cục cằn, thô lỗ. "Rượu vào lời ra", thật chẳng sai. Trong trường hợp này thì quả là rượu đã làm hư hỏng con người. Mặc dù có câu nói: "Nam vô tửu như kì vô phong!", nhưng thanh niên học sinh chúng ta không nên tập uống rượu, đừng nên uống rượu.

    2. Sau rượu là kiêu ngạo được nói đến. Kiêu ngạo là một tính xấu. Kẻ kiêu ngạo tự cho mình là hơn người, tự cho mình là nhất thiên hạ. Kẻ kiêu ngạo coi người bằng vung. Ăn nói và cách sống thiếu khiêm tốn, lễ độ. Tướng cầm quân ra trận mà kiêu ngạo tất sẽ bại vong. Những kẻ chức trọng quyền cao, những người có vàng đầy két, bạc có hàng tỉ mà kiêu ngạo cũng sẽ bị đồng loại coi thường. Học sinh mà kiêu ngạo thì bị thầy chê, bạn bè xa lánh, học hành sa sút dần, thi cử sẽ bị hỏng! Đúng kiêu ngạo làm hỏng con người. Kẻ kiêu ngạo sẽ bị thiên hạ coi khinh. Tuổi trẻ chúng ta phải biết sống khiêm tốn.

    3. Còn sự giận dữ thì thế nào? Tính giận dữ là một trong những tính xấu, làm hư hỏng nhân cách. Có một số người thường đỏ mặt tía tai, nói to, gặp điều gì không vừa ý thì nổi khùng lên. Sự nóng giận làm cho con người mất bình tĩnh, mất khôn ngoan. Các cuộc ẩu đả lẫn nhau mà ta thường được chứng kiến là do những kẻ giận dữ gây ra. Các cuộc ẩu đả ấy là nước mắt, là máu. Sau sự giận dữ là nỗi buồn phiền hối hận không bao giờ nguôi!

    Ta phải rèn luyện cho "mát tính", biết sống hiền lành, hoà thuận, khiêm nhường. Phải biết tự chủ trong lời nói, trong hành động. Phải biết xa lánh những kẻ thô lỗ cục cằn. Phải biết ghi sâu vào lòng câu tục ngữ "một điều nhịn, chín điều lành". Phải nhớ lời dạy của cổ nhân: "Tiểu bất nhẫn, bất thành đại sự".

    Tóm lại, câu "Có ba điều làm hỏng một con người: rượu, tính kiêu ngạo và sự giận dữ" là một lời khuyên đẹp, một bài học quý báu đối với thanh thiếu nhi học sinh chúng ta. Bài học ấy giúp ta rèn luyện tính tình, rèn luyện phong cách sống để hoàn thiện dần nhân cách văn hoá, biết sống đẹp giữa đồng loại.
  • Tâm trạng hàng ngày
    Ngủ
    9-7-2012 10:42 PM
  • Đã viết: 10 ngày

    [LV.3]Spam 3

     Tác giả| Đăng lúc 20-6-2011 03:42 PM | Xem tất
    “Chí Phèo” của Nam Cao / “Người lái đò Sông Đà” - Nguyễn Tuân



    * Câu 1.

    Tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao đã có những tên gọi nào? Anh (chị) hãy nêu ý kiến nhận xét về những tên gọi đó.

    * Câu 2.

    Một trong những nét phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân là nhìn ngưởi ở phương diện tài hoa nghệ sĩ.

    Hãy phân tích nhân vật người lái đò trong tác phẩm “Người lái đò Sông Đà” để làm sáng tỏ nhận định trên.

    * Câu 3.

    Bình giảng khổ thơ sau trong bài “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên:

    “Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ

    Cỏ đón giêng hai chim én gặp mùa

    Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

    Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa”.

    (Văn học 12, Tập 1,

    sách chỉnh lý hợp nhất năm 2000, tr. 120)

    HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

    Bài làm (Câu 1)

    Các ý chính:

    1. Các tên gọi của tác phẩm “Chí Phèo”.

    - Cái lò gạch cũ do tác giả đặt năm 1940.

    - Đôi lứa xứng đôi Nhà xuất bản Đời mới (Hà Nội) tự ý đặt năm 1941.

    - Chí Phèo do chính tác đặt lại khi in trong lập Luống cày (Hội Văn hóa Cứu quốc xuất bản, Hà Nội, năm 1946).

    2. Nêu nhận xét về các tên gọi.

    - Cái lò gạch cũ.

    + Cách gọi này dựa vào hình ảnh cái lò gạch bỏ hoang ở phần đầu và được lặp lại ở câu kết của tác phẩm.

    + Ý nghĩa: Nhấn mạnh tính chất quy luật của hiện tượng “Chí Phèo”, liên tưởng tố cáo và kết án xã hội đương thời. Tạo nên những ám ảnh trong lòng người đọc. Hạn chế: cái nhìn bi quan của tác giả về số phận của người nông dân.

    - Đôi lứa xứng đôi.

    + Cách gọi này dựa vào mối tình Chí Phèo - Thị Nở, nhằm gợi trí tò mò của một số độc giả đương thời.

    + Hạn chế: Chưa khái quát được ý nghĩa của tác phẩm vì mối tình Chí Phèo - Thị Nở chỉ có giá trị như một tình huống tạo nên bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời Chí Phèo, bộc lộ một khía cạnh tư tưởng nhân đạo của tác phẩm. Tên gọi này đã biến đổi mối tình của hai nhân vật thành trò cười và gây ra một hướng tiếp cận sai lệch về tác phẩm.

    - Chí Phèo.

    + Cách gọi này thống nhất với một số tác phẩm khác của Nam Cao: lấy tên nhân vật chính để đặt tên truyện : Lão Hạc, Dì Hảo, Lang Rận,…

    + Ý nghĩa: Thể hiện đầy đủ chủ đề và ý nghĩa tư tưởng của tác phẩm.

    Bài làm (Câu 2)

    Các ý chính:

    1. Vài nét về tác giả và tác phẩm.

    - Nguyễn Tuân là nhà văn nổi tiếng của nền văn xuôi hiện đại Việt Nam, được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996.

    Ông là nhà văn rất tài hoa, yêu cái đẹp, khám phá thiên nhiên và con người ở phương diện thẩm mỹ và tài hoa nghệ sĩ.

    - Tuỳ bút “Người lái đò Sông Đà” in trong tập “Sông Đà” (năm 1960). Ở đây, Nguyễn Tuân đã thể hiện sự khám phá vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Tây Bắc. Đặc biệt “chất vàng mười” của tâm hồn con người Tây Bắc.

    Nhân vật người lái đò Sông Đà đã mang “chất vàng mười”. Đó là chất tài hoa, nghệ sĩ của một “tay lái ra hoa”.

    2. Phân tích nhân vật người lái đò Sông Đà để làm sáng tỏ nhận định.

    a) Quan niệm mới mẻ của Nguyễn Tuân về nghệ sĩ.

    - Với góc nhìn từ phương diện tài hoa nghệ sĩ, Nguyễn Tuân cho rằng bất cứ người lao động nào, làm bất cứ nghề gì mà người giỏi giang, khéo léo, tài hoa trong công việc thì đều đạt đến trình độ nghệ sĩ, đều được coi là nghệ sĩ. Vì vậy, trong văn chương của ông có cả nghệ sĩ viết chữ và có cả nghệ sĩ lái đò.

    - Quan niệm này bộc lộ tấm lòng trân trọng của nhà văn đối với những người lao động bình thường mà tài giỏi, có bàn tay vàng.

    b) Phân tích vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ của lái đò.

    - Vẻ đẹp của trí tuệ thông minh.

    Chi tiết phân tích: “Ông lái đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá”. “Ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này”.

    Ý nghĩa: Người lái đò thuộc con sông Đà như thuộc lòng bàn tay của mình, nhớ tỉ mỉ từng luồng lành, luồng dữ, từng tảng đá ngầm, đá nổi,… Thực chất đó là những quan sát tinh tường, những kinh nghiệm quý báu ông đúc rút được từ trong những cuộc vật lộn với sông nước hằng ngày. Tác giả đã trân trọng đề cao vốn kinh nghiệm đó bằng cách nói so sánh “nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá”. Sự tài hoa của người lái đò đã được tô đậm ở chi tiết này.

    - Vẻ đẹp của lòng kiên trì, dũng cảm trong cuộc vận lộn với thác dữ, đá dữ.

    Chi tiết phân tích: Tập trung phân tích hình ảnh ông lái đò chỉ huy con thuyền của mình vượt qua ba vòng thạch trận. Trong quá trình phân tích, chú ý làm nổi bật sự tương phản giữa đá dữ, nước dữ và con người. Cụ thể:

    + Đá dữ kết hợp với nước dữ tấn công con người từ nhiều phía: “đá trái, thúc gối vào bụng vào hông thuyền”, “bám lấy thuyền” mà đánh “đòn tỉa”, “đòn âm” vào những chỗ hiểm, “đội cả thuyền lên”, “bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mình ra giữa trận nước”.

    + Ông lái đò, trước những đòn độc hiểm như vậy không phải không có lúc "mặt méo bệch đi” (chú ý phân tích ý nghĩa của từ và đánh giá sự sáng tạo của tác giả trong việc dùng từ). Nhưng ông rất bình tĩnh, sáng suốt, dũng cảm đối phó với kẻ thù. Các dộng tác liên tục không ngơi nghỉ: “giữ mái chèo”, “hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái”, “nắm chặt lấy được cái bờm sóng” mà phi, “đứa thì ông tránh, mà rảo bơi chèo lên”, “đứa thì ông đè sấn lên, chặt đôi ra mà mở đường tiến lên”, “lái miết một đường chéo” về phía cửa sinh.

    + Lúc ngừng chèo, nghỉ trong hang đá, ông lái đò vừa nướng ông cơm lam, vừa kể chuyện về cá anh vũ, về những hang cá dầm xanh... rất ung dung, thư thái.

    Ý nghĩa:

    - Ca ngợi lòng kiên trì, dũng cảm kết hợp với trí thông minh và sự bình tĩnh, sáng suốt của người lái đò trong cuộc vật lôn với sóng nước dữ dội. Tư thế của người lái đò là tư thế chiến thắng và luôn luôn chiến thắng. Với những chiến thắng đó, người lái đò xứng đáng với danh hiệu nghệ sĩ tài hoa.

    - Nguyễn Tuân đã miêu tả và cảm nhận ông lái đò ở phương diện văn hóa và cốt cách tài hoa nghệ sĩ.

    Bài làm (Câu 3)

    Các ý chính:

    1. Xuất xứ:

    Chế Lan Viên là nhà thơ tiêu biểu của nền thơ ca Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945. Bài thơ Tiếng hát con tàu rút từ tập Ánh sáng và phù sa (1960) gợi cảm hứng từ cuộc vận động nhân dân miền xuôi lên Tây Bắc xây dựng kinh tế mới. Bài thơ là khúc hát về lòng biết ơn, tình yêu và sự gắn bó với nhân dân, đất nước của một tâm hồn thơ đã tìm thấy ngọn nguồn nuôi dưỡng và chân trời nghệ thuật mới của mình.

    2. Bình giảng khổ thơ.

    - Khổ thơ toát lên niềm khát khao và hạnh phúc được trở về với nhân dân của nhà thơ.

    - Hai câu thơ đầu của khổ thơ:

    + Trở về với nhân dân là trở về với môi trường sống quen thuộc thân thiết, làm nảy nở, phát triển sự sống. Đồng thời, đó cũng là nọgn nguồn của sự sáng tạo nghệ thuật.

    + Phân tích những hình ảnh so sánh: nai về suối cũ, cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa.

    - Hai câu thơ sau của khổ thơ:

    + Nhân dân là người nuôi dưỡng, làm hồi sinh sự sống.

    + Phân tích những hình ảnh so sánh: "Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa - Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa".

    3. Kết luận.

    - Cả khổ thơ thể hiện sự sáng tạo độc đáo của tác giả về cách xây dựng hình ảnh, về giọng điệu:

    + Khổ thơ là chuỗi hình ảnh liên tiếp làm nổi bật cảm xúc và tư tưởng khao khát, hạnh phúc trở về với nhân dân.

    + Những hình ảnh so sánh gần gũi với tự nhiên và cuộc sống con người.

    + Giọng điệu của khổ thơ tha thiết chân thành.

    - Khổ thơ thể hiện nét phong cách của Chế Lan Viên: suy tưởng sâu lắng và sáng tạo hình ảnh phong phú.

    Bài đọc tham khảo

    Tôi rất yêu thích vần thơ của thi sĩ Chế Lan Viên nói về "hương nhân ái":

    "Đóa hoa sen mặt đất tỏa hương trời

    ­­ Hương nhân ái thấm vào hồn ta mãi".

    Tôi cũng vô cùng thú vị mỗi lần nghe ai đó nhắc lại đoạn thơ này của ông:

    "Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét

    Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng,

    Như xuân đến chim rừng lông trở biếc

    Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương".

    Năm 1960, tập thơ "Ánh sáng và phù sa" ra đời, một bước tiến mới về tư tưởng và nghệ thuật của Chế Lan Viên. Bài thơ "Tiếng hát con tàu" nói lên tình yêu Tây Bắc và khát vọng lên đường đi đến mọi chân trời mơ ước để hiến dâng và sáng tạo. Bài thơ gồm có 3 phần: 1. Tiếng gọi lên đường; 2. Nỗi nhớ Tây Bắc; 3. Khúc hát lên đường.

    Đây là khổ thơ thứ 5 trích trong phần 2 bài "Tiếng hát con tàu" nói lên niềm hạnh phúc to lớn được gặp lại nhân dân:

    "Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ

    Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa

    Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

    Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa".

    Tư tưởng gặp lại nhân dân là một tư tưởng đẹp. Tư tưởng ấy được cụ thể hóa, hình tượng hóa bằng năm hình ảnh ẩn dụ so sánh vừa mới lạ, vừa giàu chất thơ. Câu thơ "Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ" là một so sánh độc đáo. Mùa đông tàn tạ, đàn nai đi kiếm ăn ở rừng xa. Nay mùa xuân đến, đàn nai trở về "suối cũ" mảnh đất đã bao đời gắn bó thân thiết yêu thương. "Nai về suối cũ" là sự thể hiện tình nghĩa thủy chung ở đời như "con gặp lại nhân dân", được sống trong lòng nhân dân. Một chữ "con" dùng rất tinh tế, đã thể hiện một tình cảm chân thành, ấm áp. Đọc lên, ai cũng cảm thấy có mình trong đó.

    Câu thơ "Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa" mở ra trong lòng ta bao liên tưởng đẹp. Ba tháng mùa đông, cỏ cây tàn tạ xơ xác úa vàng. Giêng hai đem hơi ấm mùa xuân cho vạn vật; cỏ trở nên xanh đẹp, tốt tươi. Mùa xuân là mùa của sắc cỏ. "Phương thảo liên thiên bích" (Cổ thi); "Cỏ non xanh tận chân trời" (“Truyện Kiều”). Mùa xuân cũng là mùa của chim én: "Ngày xuân con én đưa thoi" (“Truyện Kiều”). Én gặp mùa xuân để kết đàn, sinh sôi nảy nở... Chữ "đón" (cỏ đón giêng hai), chữ "gặp" (chim én gặp mùa) diễn tả niềm hạnh phúc được hồi sinh, được phát triển, được trở nên tươi đẹp. Lấy thế giới cỏ cây, chim muông để nói về niềm vui sướng hạnh phúc khi "con gặp lại nhân dân" là một cách nói thấm thía, đậm đà. Cánh én và sắc cỏ mùa xuân trong thơ Chế Lan Viên lúc nào cũng đẹp và đáng yêu:

    "Tháng giêng, hai xanh mượt cỏ đồi

    Tháng giêng, hai vút trời bay cánh én".

    ("Ý nghĩ mùa xuân")

    Còn gì vui sướng hơn, hạnh phúc hơn khi "Đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa", khi "Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa"? Dòng sữa ngọt ngào cũng là tình thương của mẹ nuôi dưỡng trẻ thơ. Cánh tay của mẹ, của bà... nhẹ đưa khi "chiếc nôi ngừng"..., đã nâng giấc ngủ bé thơ. Giấc ngủ êm đềm trong lời ru tiếng hát, trong tình yêu thương. Mẹ và bà.... đã đến với em thơ trong sự khát khao, mong đợi. Và đó cũng là niềm vui hạnh phúc được sống trong tình yêu thương như khi "con gặp lại nhân dân".

    Ý tưởng con gặp lại nhân dân được thể hiện một cách phong phú, đa dạng. Gặp lại nhân dân là được sống trong hạnh phúc, trong tình nghĩa thủy chung. Là được tiếp thêm sức sống, sức mạnh mà trở nên tốt đẹp, sinh sôi, phát triển. Là được sống trong tình thương san sẻ, vỗ vễ, được thỏa nỗi chờ mong.

    Đoạn thơ trên thể hiện rõ bút pháp nghệ thuật của Chế Lan Viên: giàu tính triết lí và vẻ đẹp trí tuệ. Triết lí mà không khô khan, vì nhà thơ đã sáng tạo nên nhiều hình ảnh đẹp, mới lạ và ngôn ngữ sắc sảo. Ý tưởng đẹp, hồn thơ đẹp cứ quyện lấy lòng ta.

    Tư tưởng yêu nước và "thân dân" được thể hiện cảm động đó đây trong thơ ca dân tộc từ mấy trăm năm trước. Nhưng sau cách mạng tháng Tám, đặc biệt qua 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, tư tưởng vĩ đại ấy đã được một số nhà thơ như Tố Hữu, Xuân Diệu, Chế Lan Viên... nói lên một cách chân thành, thấm thía và sâu sắc hơn:

    - "Con chim biết nhớ đàn nhớ tổ,

    Ta nhớ người đau khổ nuôi ta

    Ơn người như mẹ như cha

    Lòng dân yêu Đảng như là yêu con"...

    (Tố Hữu)

    - "Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi

    Cùng đổ mồ hôi, cùng sôi giọt máu

    Tôi sống với cuộc đời chiến đấu

    Của triệu người yêu dấu gian lao".

    (Xuân Diệu)

    Đoạn thơ trên đây của Chế Lan Viên là một tiếng lòng được nâng lên thành một triết lí đẹp: Hạnh phúc khi được gặp lại nhân dân. Bốn câu thơ, câu nào cũng có hình ảnh đẹp, mới lạ biểu lộ một cá tính sáng tạo sắc sảo, tài hoa. Qua đó, ta mới thấm thía như một nhà thơ lớn phương Tây đã nói: "Câu thơ đẹp phải là câu thơ nói được một tình cảm đẹp".
    Thiên Lam
    avatar cá nhân
  • Tâm trạng hàng ngày
    Ngủ
    9-7-2012 10:42 PM
  • Đã viết: 10 ngày

    [LV.3]Spam 3

     Tác giả| Đăng lúc 20-6-2011 03:42 PM | Xem tất
    “Chí Phèo” của Nam Cao / “Người lái đò Sông Đà” - Nguyễn Tuân / “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên



    * Câu 1.

    Tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao đã có những tên gọi nào? Anh (chị) hãy nêu ý kiến nhận xét về những tên gọi đó.

    * Câu 2.

    Một trong những nét phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân là nhìn ngưởi ở phương diện tài hoa nghệ sĩ.

    Hãy phân tích nhân vật người lái đò trong tác phẩm “Người lái đò Sông Đà” để làm sáng tỏ nhận định trên.

    * Câu 3.

    Bình giảng khổ thơ sau trong bài “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên:

    “Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ

    Cỏ đón giêng hai chim én gặp mùa

    Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

    Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa”.

    (Văn học 12, Tập 1,

    sách chỉnh lý hợp nhất năm 2000, tr. 120)

    HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

    Bài làm (Câu 1)

    Các ý chính:

    1. Các tên gọi của tác phẩm “Chí Phèo”.

    - Cái lò gạch cũ do tác giả đặt năm 1940.

    - Đôi lứa xứng đôi Nhà xuất bản Đời mới (Hà Nội) tự ý đặt năm 1941.

    - Chí Phèo do chính tác đặt lại khi in trong lập Luống cày (Hội Văn hóa Cứu quốc xuất bản, Hà Nội, năm 1946).

    2. Nêu nhận xét về các tên gọi.

    - Cái lò gạch cũ.

    + Cách gọi này dựa vào hình ảnh cái lò gạch bỏ hoang ở phần đầu và được lặp lại ở câu kết của tác phẩm.

    + Ý nghĩa: Nhấn mạnh tính chất quy luật của hiện tượng “Chí Phèo”, liên tưởng tố cáo và kết án xã hội đương thời. Tạo nên những ám ảnh trong lòng người đọc. Hạn chế: cái nhìn bi quan của tác giả về số phận của người nông dân.

    - Đôi lứa xứng đôi.

    + Cách gọi này dựa vào mối tình Chí Phèo - Thị Nở, nhằm gợi trí tò mò của một số độc giả đương thời.

    + Hạn chế: Chưa khái quát được ý nghĩa của tác phẩm vì mối tình Chí Phèo - Thị Nở chỉ có giá trị như một tình huống tạo nên bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời Chí Phèo, bộc lộ một khía cạnh tư tưởng nhân đạo của tác phẩm. Tên gọi này đã biến đổi mối tình của hai nhân vật thành trò cười và gây ra một hướng tiếp cận sai lệch về tác phẩm.

    - Chí Phèo.

    + Cách gọi này thống nhất với một số tác phẩm khác của Nam Cao: lấy tên nhân vật chính để đặt tên truyện : Lão Hạc, Dì Hảo, Lang Rận,…

    + Ý nghĩa: Thể hiện đầy đủ chủ đề và ý nghĩa tư tưởng của tác phẩm.

    Bài làm (Câu 2)

    Các ý chính:

    1. Vài nét về tác giả và tác phẩm.

    - Nguyễn Tuân là nhà văn nổi tiếng của nền văn xuôi hiện đại Việt Nam, được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996.

    Ông là nhà văn rất tài hoa, yêu cái đẹp, khám phá thiên nhiên và con người ở phương diện thẩm mỹ và tài hoa nghệ sĩ.

    - Tuỳ bút “Người lái đò Sông Đà” in trong tập “Sông Đà” (năm 1960). Ở đây, Nguyễn Tuân đã thể hiện sự khám phá vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Tây Bắc. Đặc biệt “chất vàng mười” của tâm hồn con người Tây Bắc.

    Nhân vật người lái đò Sông Đà đã mang “chất vàng mười”. Đó là chất tài hoa, nghệ sĩ của một “tay lái ra hoa”.

    2. Phân tích nhân vật người lái đò Sông Đà để làm sáng tỏ nhận định.

    a) Quan niệm mới mẻ của Nguyễn Tuân về nghệ sĩ.

    - Với góc nhìn từ phương diện tài hoa nghệ sĩ, Nguyễn Tuân cho rằng bất cứ người lao động nào, làm bất cứ nghề gì mà người giỏi giang, khéo léo, tài hoa trong công việc thì đều đạt đến trình độ nghệ sĩ, đều được coi là nghệ sĩ. Vì vậy, trong văn chương của ông có cả nghệ sĩ viết chữ và có cả nghệ sĩ lái đò.

    - Quan niệm này bộc lộ tấm lòng trân trọng của nhà văn đối với những người lao động bình thường mà tài giỏi, có bàn tay vàng.

    b) Phân tích vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ của lái đò.

    - Vẻ đẹp của trí tuệ thông minh.

    Chi tiết phân tích: “Ông lái đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá”. “Ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này”.

    Ý nghĩa: Người lái đò thuộc con sông Đà như thuộc lòng bàn tay của mình, nhớ tỉ mỉ từng luồng lành, luồng dữ, từng tảng đá ngầm, đá nổi,… Thực chất đó là những quan sát tinh tường, những kinh nghiệm quý báu ông đúc rút được từ trong những cuộc vật lộn với sông nước hằng ngày. Tác giả đã trân trọng đề cao vốn kinh nghiệm đó bằng cách nói so sánh “nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá”. Sự tài hoa của người lái đò đã được tô đậm ở chi tiết này.

    - Vẻ đẹp của lòng kiên trì, dũng cảm trong cuộc vận lộn với thác dữ, đá dữ.

    Chi tiết phân tích: Tập trung phân tích hình ảnh ông lái đò chỉ huy con thuyền của mình vượt qua ba vòng thạch trận. Trong quá trình phân tích, chú ý làm nổi bật sự tương phản giữa đá dữ, nước dữ và con người. Cụ thể:

    + Đá dữ kết hợp với nước dữ tấn công con người từ nhiều phía: “đá trái, thúc gối vào bụng vào hông thuyền”, “bám lấy thuyền” mà đánh “đòn tỉa”, “đòn âm” vào những chỗ hiểm, “đội cả thuyền lên”, “bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mình ra giữa trận nước”.

    + Ông lái đò, trước những đòn độc hiểm như vậy không phải không có lúc "mặt méo bệch đi” (chú ý phân tích ý nghĩa của từ và đánh giá sự sáng tạo của tác giả trong việc dùng từ). Nhưng ông rất bình tĩnh, sáng suốt, dũng cảm đối phó với kẻ thù. Các dộng tác liên tục không ngơi nghỉ: “giữ mái chèo”, “hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái”, “nắm chặt lấy được cái bờm sóng” mà phi, “đứa thì ông tránh, mà rảo bơi chèo lên”, “đứa thì ông đè sấn lên, chặt đôi ra mà mở đường tiến lên”, “lái miết một đường chéo” về phía cửa sinh.

    + Lúc ngừng chèo, nghỉ trong hang đá, ông lái đò vừa nướng ông cơm lam, vừa kể chuyện về cá anh vũ, về những hang cá dầm xanh... rất ung dung, thư thái.

    Ý nghĩa:

    - Ca ngợi lòng kiên trì, dũng cảm kết hợp với trí thông minh và sự bình tĩnh, sáng suốt của người lái đò trong cuộc vật lôn với sóng nước dữ dội. Tư thế của người lái đò là tư thế chiến thắng và luôn luôn chiến thắng. Với những chiến thắng đó, người lái đò xứng đáng với danh hiệu nghệ sĩ tài hoa.

    - Nguyễn Tuân đã miêu tả và cảm nhận ông lái đò ở phương diện văn hóa và cốt cách tài hoa nghệ sĩ.

    Bài làm (Câu 3)

    Các ý chính:

    1. Xuất xứ:

    Chế Lan Viên là nhà thơ tiêu biểu của nền thơ ca Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945. Bài thơ Tiếng hát con tàu rút từ tập Ánh sáng và phù sa (1960) gợi cảm hứng từ cuộc vận động nhân dân miền xuôi lên Tây Bắc xây dựng kinh tế mới. Bài thơ là khúc hát về lòng biết ơn, tình yêu và sự gắn bó với nhân dân, đất nước của một tâm hồn thơ đã tìm thấy ngọn nguồn nuôi dưỡng và chân trời nghệ thuật mới của mình.

    2. Bình giảng khổ thơ.

    - Khổ thơ toát lên niềm khát khao và hạnh phúc được trở về với nhân dân của nhà thơ.

    - Hai câu thơ đầu của khổ thơ:

    + Trở về với nhân dân là trở về với môi trường sống quen thuộc thân thiết, làm nảy nở, phát triển sự sống. Đồng thời, đó cũng là nọgn nguồn của sự sáng tạo nghệ thuật.

    + Phân tích những hình ảnh so sánh: nai về suối cũ, cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa.

    - Hai câu thơ sau của khổ thơ:

    + Nhân dân là người nuôi dưỡng, làm hồi sinh sự sống.

    + Phân tích những hình ảnh so sánh: "Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa - Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa".

    3. Kết luận.

    - Cả khổ thơ thể hiện sự sáng tạo độc đáo của tác giả về cách xây dựng hình ảnh, về giọng điệu:

    + Khổ thơ là chuỗi hình ảnh liên tiếp làm nổi bật cảm xúc và tư tưởng khao khát, hạnh phúc trở về với nhân dân.

    + Những hình ảnh so sánh gần gũi với tự nhiên và cuộc sống con người.

    + Giọng điệu của khổ thơ tha thiết chân thành.

    - Khổ thơ thể hiện nét phong cách của Chế Lan Viên: suy tưởng sâu lắng và sáng tạo hình ảnh phong phú.

    Bài đọc tham khảo

    Tôi rất yêu thích vần thơ của thi sĩ Chế Lan Viên nói về "hương nhân ái":

    "Đóa hoa sen mặt đất tỏa hương trời

    ­­ Hương nhân ái thấm vào hồn ta mãi".

    Tôi cũng vô cùng thú vị mỗi lần nghe ai đó nhắc lại đoạn thơ này của ông:

    "Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét

    Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng,

    Như xuân đến chim rừng lông trở biếc

    Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương".

    Năm 1960, tập thơ "Ánh sáng và phù sa" ra đời, một bước tiến mới về tư tưởng và nghệ thuật của Chế Lan Viên. Bài thơ "Tiếng hát con tàu" nói lên tình yêu Tây Bắc và khát vọng lên đường đi đến mọi chân trời mơ ước để hiến dâng và sáng tạo. Bài thơ gồm có 3 phần: 1. Tiếng gọi lên đường; 2. Nỗi nhớ Tây Bắc; 3. Khúc hát lên đường.

    Đây là khổ thơ thứ 5 trích trong phần 2 bài "Tiếng hát con tàu" nói lên niềm hạnh phúc to lớn được gặp lại nhân dân:

    "Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ

    Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa

    Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

    Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa".

    Tư tưởng gặp lại nhân dân là một tư tưởng đẹp. Tư tưởng ấy được cụ thể hóa, hình tượng hóa bằng năm hình ảnh ẩn dụ so sánh vừa mới lạ, vừa giàu chất thơ. Câu thơ "Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ" là một so sánh độc đáo. Mùa đông tàn tạ, đàn nai đi kiếm ăn ở rừng xa. Nay mùa xuân đến, đàn nai trở về "suối cũ" mảnh đất đã bao đời gắn bó thân thiết yêu thương. "Nai về suối cũ" là sự thể hiện tình nghĩa thủy chung ở đời như "con gặp lại nhân dân", được sống trong lòng nhân dân. Một chữ "con" dùng rất tinh tế, đã thể hiện một tình cảm chân thành, ấm áp. Đọc lên, ai cũng cảm thấy có mình trong đó.

    Câu thơ "Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa" mở ra trong lòng ta bao liên tưởng đẹp. Ba tháng mùa đông, cỏ cây tàn tạ xơ xác úa vàng. Giêng hai đem hơi ấm mùa xuân cho vạn vật; cỏ trở nên xanh đẹp, tốt tươi. Mùa xuân là mùa của sắc cỏ. "Phương thảo liên thiên bích" (Cổ thi); "Cỏ non xanh tận chân trời" (“Truyện Kiều”). Mùa xuân cũng là mùa của chim én: "Ngày xuân con én đưa thoi" (“Truyện Kiều”). Én gặp mùa xuân để kết đàn, sinh sôi nảy nở... Chữ "đón" (cỏ đón giêng hai), chữ "gặp" (chim én gặp mùa) diễn tả niềm hạnh phúc được hồi sinh, được phát triển, được trở nên tươi đẹp. Lấy thế giới cỏ cây, chim muông để nói về niềm vui sướng hạnh phúc khi "con gặp lại nhân dân" là một cách nói thấm thía, đậm đà. Cánh én và sắc cỏ mùa xuân trong thơ Chế Lan Viên lúc nào cũng đẹp và đáng yêu:

    "Tháng giêng, hai xanh mượt cỏ đồi

    Tháng giêng, hai vút trời bay cánh én".

    ("Ý nghĩ mùa xuân")

    Còn gì vui sướng hơn, hạnh phúc hơn khi "Đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa", khi "Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa"? Dòng sữa ngọt ngào cũng là tình thương của mẹ nuôi dưỡng trẻ thơ. Cánh tay của mẹ, của bà... nhẹ đưa khi "chiếc nôi ngừng"..., đã nâng giấc ngủ bé thơ. Giấc ngủ êm đềm trong lời ru tiếng hát, trong tình yêu thương. Mẹ và bà.... đã đến với em thơ trong sự khát khao, mong đợi. Và đó cũng là niềm vui hạnh phúc được sống trong tình yêu thương như khi "con gặp lại nhân dân".

    Ý tưởng con gặp lại nhân dân được thể hiện một cách phong phú, đa dạng. Gặp lại nhân dân là được sống trong hạnh phúc, trong tình nghĩa thủy chung. Là được tiếp thêm sức sống, sức mạnh mà trở nên tốt đẹp, sinh sôi, phát triển. Là được sống trong tình thương san sẻ, vỗ vễ, được thỏa nỗi chờ mong.

    Đoạn thơ trên thể hiện rõ bút pháp nghệ thuật của Chế Lan Viên: giàu tính triết lí và vẻ đẹp trí tuệ. Triết lí mà không khô khan, vì nhà thơ đã sáng tạo nên nhiều hình ảnh đẹp, mới lạ và ngôn ngữ sắc sảo. Ý tưởng đẹp, hồn thơ đẹp cứ quyện lấy lòng ta.

    Tư tưởng yêu nước và "thân dân" được thể hiện cảm động đó đây trong thơ ca dân tộc từ mấy trăm năm trước. Nhưng sau cách mạng tháng Tám, đặc biệt qua 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, tư tưởng vĩ đại ấy đã được một số nhà thơ như Tố Hữu, Xuân Diệu, Chế Lan Viên... nói lên một cách chân thành, thấm thía và sâu sắc hơn:

    - "Con chim biết nhớ đàn nhớ tổ,

    Ta nhớ người đau khổ nuôi ta

    Ơn người như mẹ như cha

    Lòng dân yêu Đảng như là yêu con"...

    (Tố Hữu)

    - "Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi

    Cùng đổ mồ hôi, cùng sôi giọt máu

    Tôi sống với cuộc đời chiến đấu

    Của triệu người yêu dấu gian lao".

    (Xuân Diệu)

    Đoạn thơ trên đây của Chế Lan Viên là một tiếng lòng được nâng lên thành một triết lí đẹp: Hạnh phúc khi được gặp lại nhân dân. Bốn câu thơ, câu nào cũng có hình ảnh đẹp, mới lạ biểu lộ một cá tính sáng tạo sắc sảo, tài hoa. Qua đó, ta mới thấm thía như một nhà thơ lớn phương Tây đã nói: "Câu thơ đẹp phải là câu thơ nói được một tình cảm đẹp".

    ST
  • Tâm trạng hàng ngày
    Ngủ
    9-7-2012 10:42 PM
  • Đã viết: 10 ngày

    [LV.3]Spam 3

     Tác giả| Đăng lúc 20-6-2011 03:43 PM | Xem tất
    sự nghiệp văn học của Nam Cao / “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam / “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử



    * Câu 1.

    Nêu vắn tắt sự nghiệp văn học của Nam Cao.

    * Câu 2.

    Phân tích vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật Liên trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam.

    * Câu 3.

    Anh (chị) hãy phân tích bài “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử để thấy rõ nỗi niềm tâm sự của nhà thơ.

    ĐỊNH HƯỚNG LÀM BÀI

    Bài làm (Câu 1)

    Các ý chính:

    - Nam Cao (1917 - 1951) là nhà văn có vị trí quan trọng trong nền văn học Việt Nam thế kỷ XX, là đại diện xuất sắc của trào lưu văn học hiện thực trước Cách mạng và cũng là cây bút tiêu biểu của nền văn học mới sau Cách mạng tháng Tám 1945.

    - Trước cách mạng tháng Tám, Nam Cao tập trung vào hai đề tài chính để sáng tác: cuộc sống của người trí thức nghèo và của người nông dân nghèo.

    Ở đề tài trí thức tiểu tư sản nghèo, đáng chú ý là các truyện: Những truyện không muốn viết, Trăng sáng, Đời thừa, Cười, Nước mắt, Mua nhà,… tiểu thuyết Sống mòn. Trong khi miêu tả chân thực tình cảnh nghèo khổ, bế tắc của những nhà văn nghèo, “giáo khổ trường tư”, học sinh thất nghiệp,… Nam Cao đã làm nổi bật tấn bi kịch tinh thần của họ.

    Trong đề tài về nông thôn, với những truyện tiêu biểu như: Chí Phèo, Trẻ con không được ăn thịt chó, Mua danh, Lão Hạc, Lang Rận, Dì Hảo,...

    - Sau Cách mạng tháng Tám, Nam Cao sáng tác để phục vụ công cuộc kháng chiến. Những tác phẩm tiêu biểu có: Đôi mắt, Nhật kí ở rừng…

    Bài làm (Câu 2)

    Các ý chính:

    1. Giới thiệu sơ lược.

    Thạch Lam là nhà văn có tâm hồn đôn hậu. Hai đứa trẻ là tác phẩm khá thành công của ông, khắc hoạ bức tranh làng quê, số phận những con người bé nhỏ và sự nâng niu trân trọng vẻ đẹp tâm hồn con người.

    2. Vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật Liên.

    - Liên có tâm hồn nhạy cảm, tinh tế (cảm nhận của Liên về bức tranh chiều tối với những âm thanh quen thuộc: tiếng ếch nhái ngoài đồng ruộng, tiếng muỗi vo ve, bóng tối, bầu trời,…)

    - Liên luôn khát khao cuộc sống có ý nghĩa hơn:

    + Liên thao thức đợi chuyến tàu đi qua như “mong đợi một cái gì tươi sáng” cho sự sống nghèo khổ hằng ngày.

    + Liên “lặng lẽ theo mơ tưởng” khi chuyến tàu đi qua. Trong cái nhìn của Liên có biết bao khát khao hi vọng (hình ảnh “Hà Nội sáng rực, vui vẻ và huyên náo” đã trở thành niềm mơ ước).

    + Những cảm giác lắng lại trong tâm hồn Liên để lại chút bâng khuâng dịu nhẹ: “Liên thấy mình sống giữa bao nhiêu sự xa xôi không biết như chiếc đèn con chị Tý chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ”.

    3. Kết luận.

    Ước mơ bé nhỏ trong tâm hồn Liên, nỗi vương vấn dịu nhẹ gợi ra một cảm giác trong lành, yên tĩnh. Đó là khoảng sâu trong tâm hồn con người ở nhân vật Liên.

    Bài làm (Câu 3)

    1. Vài nét về tác giả:

    Đánh giá khái quát về giá trị nội dung của bài thơ: Bức tranh thiên nhiên trong sáng, tươi đẹp nhưng lại thấm đẫm nỗi buồn của tác giả.

    2. Phân tích bài thơ:

    Hướng phân tích: Cắt ngang bài thơ theo mạch cảm xúc của tác giả, phân tích vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên gắn với việc lột tả tâm trạng của tác giả.

    a) Khổ thơ đầu.

    - Câu thứ nhất: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ”. Chỉ ra giá trị tu từ của câu hỏi: có thể là một lời trách móc nhẹ nhàng, một lời mời chào tha thiết, một sự hối tiếc vì đã không về được thôn Vĩ. Nếu đứng ở phương diện tả cảnh thì đó lại là một phương tiện để phô bày cảnh đẹp của thôn Vĩ.

    - Ba câu tiếp theo:

    + Chú ý phân tích các từ ngữ “mướt quá”, “xanh như ngọc”, hình ảnh “nắng hàng cau”, để nêu bật vẻ đẹp tươi mát, lung linh của cây lá tắm trong sương sớm và nắng mai của buổi sáng mùa xuân.

    + Từ “ai” là từ phiếm chỉ gợi tình cảm vừa thân thiết, vừa bâng khuâng xa vời.

    + Hình ảnh “mặt chữ điền” gợi cái hồn của những con người chất phác, nhân hậu, cần cù, rất đáng yêu.

    - Tóm lại, cảnh thôn Vĩ đẹp, người thôn Vĩ đáng yêu đáng quý. Qua đó, tác giả gửi gắm nỗi niềm nhớ nhung, những hoài niệm trong sáng của mình về xứ Huế mộng mơ.

    b) Khổ thơ thứ hai.

    - Hai câu đầu:

    + Tập trung phân tích các hình ảnh “gió”, “mây”, “dòng nước buồn thiu”, “hoa bắp lay”.

    + Ý thơ đã hé mở một nỗi buồn, một sự chia lìa, dang dở.

    - Hai câu tiếp:

    + Không gian thơ mộng, tràn ngập ánh sáng: sông trăng, bến trăng, thuyền trăng. Cảnh vừa thực vừa hư, rất mộng ảo.

    + Câu thơ “Có chở trăng về kịp tối nay?” đồng thời là một câu hỏi bộc lộ nỗi niềm của nhà thơ với người mình thương nhớ, với bao khát khao đợi chờ.

    Tóm lại, cảnh vật ở khổ thơ này vẫn đẹp nhưng đã đượm buồn. Nỗi niềm của nhà thơ gửi gắm ở đây là những khao khát hi vọng với hạnh phúc, với cái đẹp của tình người dù là xa xôi, mờ ảo.

    c) Khổ thứ ba.

    - Tập trung phân tích các từ ngữ, hình ảnh “khách đường xa”, “mơ”, cấu trúc và âm điệu đặc biệt của câu “Mơ khách đường xa, khách đường xa”, “áo em trắng quá nhìn không ra”, “…sương khói mờ nhân ảnh”, … Tất cả đều hướng tới và làm nổi bật sự khắc khoải, bồn chồn, vô vọng của nhà thơ, nỗi băn khoăn da diết, nỗi đau đớn tuyệt vọng của nhà thơ trước mối tình đơn phương.

    - Tóm lại, vẻ đẹp tâm hồn trong sáng của nhà thơ, một người có trái tim giàu yêu thương, khát khao sống mãnh liệt. Dù trong hoàn cảnh nào, trái tim ấy vẫn hướng về cuộc sống, hướng về tình yêu.

    3. Kết luận.

    - Đánh giá về nội dung.

    - Đánh giá về nghệ thuật.

    - Nêu cảm nghĩ.
  • Tâm trạng hàng ngày
    Ngủ
    9-7-2012 10:42 PM
  • Đã viết: 10 ngày

    [LV.3]Spam 3

     Tác giả| Đăng lúc 20-6-2011 03:43 PM | Xem tất
    Chí Phèo” của Nam Cao / "Bên kia sông Đuống" của Hoàng Cầm / Người lái đò Sông Đà” của Nguyễn Tuân



    * Câu 1.

    Anh (chị) hãy phân tích ý nghĩa hình ảnh “cái lò gạch cũ” trong tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao.

    * Câu 2.

    Phân tích đoạn thơ sau trong bài "Bên kia sông Đuống" của Hoàng Cầm:

    "Bên kia sông Đuống

    Quê hương ta lúa nếp thơm nồng

    Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong

    Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp

    Quê hương ta từ ngày khủng khiếp

    Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn

    Ruộng ta khô

    Nhà ta cháy

    Chó ngộ một đàn

    Lưỡi dài lê sắc máu

    Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang

    Mẹ con đàn lợn âm dương

    Chia lìa đôi ngả

    Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã

    Bây giờ tan tác về đâu".

    (Trích SGK Văn học 12, Tập 1,

    NXB Giáo dục 2001, tr 79 - 80)

    * Câu 3.

    Anh (chị) hãy phân tích hình tượng con sông Đà trong bài kí “Người lái đò Sông Đà” của Nguyễn Tuân.

    HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

    Bài làm (Câu 1)

    Các ý chính:

    1. Giới thiệu đôi nét về tác phẩm và hình ảnh “cái lò gạch cũ”.

    - Truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao nguyên có tên là “Cái lò gạch cũ”, khi in thành sách lần đầu tiên (1941), nhà xuất bản Đời mới tự ý đổi tên là “Đôi lứa xứng đôi”. Đến khi in lại trong lập “Luống cày” (1946), tác giả đặt lại tên là “Chí Phèo”.

    - “Chí Phèo” là một kiệt tác của Nam Cao viết về cuộc sống cùng quẫn của những kiếp người lao động ở làng quê Việt Nam trước Cách mạng. Hình ảnh “cái lò gạch cũ” trong tác phẩm được tác giả xây dựng với một ý đồ nghệ thuật chứa đựng ý nghĩa tư tưởng sâu sắc: hiện tượng "Chí Phèo " trong xã hội cũ.

    2. a) Câu chuyện về cuộc đời Chí được bắt đầu từ “cái lò gạch cũ”. Chí là đứa con hoang bị bỏ rơi ở cái lò gạch cũ giữa đồng. Chí đã lớn lên bằng sự cưu mang của những người lao động lương thiện lam lũ. Trưởng thành, Chí đi làm canh điền cho nhà Bá Kiến (tên cường hào độc ác khét tiếng ở làng Vũ Đại). Vì ghen tuông vô cớ, Bá Kiến đã ngấm ngầm đẩy Chí vào tù. Sau bảy, tám năm đi tù biệt tăm, Chí đột nhiên trở về làng thành một kẻ hoàn toàn khác. Từng bước Chí cứ lún sâu mãi xuống vung bùn tội lỗi, trở thành tay sai cho Bá Kiến và thành “con quỷ dữ” ở làng Vũ Đại.

    b) Một lần Chí say rượu, trở về vườn chuối và gặp Thị Nở - người đàn bà xấu đến “ma chê quỷ hờn” lại dở hơi ở làng Vũ Đại. Tình thương của Thị Nở đã làm sống lại bản chất người và khát vọng hướng thiện trong Chí. Nhưng rồi tất cả những gì tốt đẹp vừa bùng loé trong tâm hồn Chí đã mau chóng bị dập tắt, bị cự tuyệt. Trong đau đớn tuyệt vọng, Chí đã đến nhà Bá Kiến, rồi giết hắn và tự đâm chết mình.

    c) Sau khi Chí Phèo chết, ở phần kết thúc tác phẩm, Thị Nở lại xuất hiện. Thị “nhớ lại lúc ăn nằm với hắn… rồi nhìn nhanh xuống bụng”, “Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa và vắng bóng người lại qua…”.

    - Cử chỉ và ý nghĩ của thị khiến người ta nghĩ tới: sẽ lại có một Chí Phèo con ra đời (…).

    - Hình ảnh “cái lò gạch cũ” xuất hiện trong ý nghĩ của Thị ở đây nằm trong ý đồ nghệ thuật của nhà văn: Một kiểu kết cấu tác phẩm đầu cuối tương ứng - kết cấu vòng tròn. Mâu thuẫn giai cấp giữa nông dân và địa chủ cường hoà một lần nữa được nhấn mạnh tô đậm. Bá Kiến chết thì có lí Cường, Chí Phèo chết thì có một Chí Phèo con sẽ xuất hiện. Mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ cường hào khi âm ỉ, khi bùng lên dữ dội, song không thể giải quyết. Vấn đề những con người lao động lương thiện bị xã hội đẩy vào con đường lưu manh cùng quẫn quay lại chống trả với xã hội bằng chính sự lưu manh của mình là vấn đề thuộc về bản chất, là quy luật tất yếu khi xã hội thực dân phong kiến còn tồn tại.

    3. Hình ảnh “cái lò gạch cũ” nằm trong ý đồ nghệ thuật và là một sáng tạo nghệ thuật đặc sắc của nhà văn Nam Cao.

    Với hình ảnh này, chủ đề của thiên truyện được khơi thêm những chiều sâu mới.

    Bài làm (Câu 2)

    1. Xuất xứ bài thơ "Bên kia sông Đuống", vị trí và cảm hứng chủ đạo của đoạn trích.

    - Hoàng Cầm là người con của mảnh đất Kinh Bắc (tỉnh Bắc Ninh). Tháng 4/1948, khi đang công tác tại căn cứ Việt Bắc, Hoàng Cầm nghe tin quê hương bị giặc Pháp đánh phá. Ông "tâm tư chồng chất những nhớ thương, tiếc nuối" cảnh và người nơi quê nhà. Ngay trong đêm, nhà thơ sáng tác bài "Bên kia sông Đuống". Tác phẩm đăng lần đầu tiên trên báo "Cưu quốc" tháng 6-1948, sau đó nhanh chóng được phổ biến toàn quốc.

    - Đoạn thơ trích ở dưới phần đầu đoạn 2 trong toàn bộ bài thơ. Cảm hứng chủ đạo của đoạn thơ là niềm đau xót, uất hận của tác giả khi quê hương bị giặc giày xéo.

    2. Đặc sắc thứ nhất về nội dung đoạn trích là bức tranh quê hương bị tàn phá, là "bản chép tội" kẻ thù của nhà thơ.

    - Hình ảnh lũ giặc huỷ hoại cả đời sống vật chất: "ruộng khô", "nhà cháy".

    - Ngọn lửa hung tàn huỷ hoại cả đời sống văn hoá tinh thần. Chúng thiêu trụi mái ấm gia đình, làm "chia lìa", "mẹ con đàn lơn âm dương". Chúng phá "tan tác", "Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã".

    3. Đặc sắc thứ hai về nội dung của đoạn trích là mạch cảm xúc đầy yêu thương, căm thù mãnh liệt của tác giả.

    - Trước hết là niềm nhớ thương da diết của tác giả về vùng Kinh Bắc đẹp, trù phú, giàu truyền thống văn hoá: lúa nếp "thơm nồng", tranh Đông Hồ "nét tươi trong", màu dân tộc "sáng bừng trên giấy điệp",...

    - Nỗi nhớ niềm thương trong đoạn thơ chuyển dần sang niềm căm thù, uất hận khi tác giả "chép tội giặc".

    - Kết thúc đoạn thơ là nỗi đau xót, lo âu "Bây giờ tan tác về đâu".

    4. Đắc sặc nghệ thuật nổi bật của đoạn thơ là biện pháp lặp, giọng thơ thay đổi linh hoạt, chất liệu văn hoá dân gian được đưa vào thơ tạo nên cái ảo, cái thực.

    - Biện pháp đối lập được sử dụng thành công ở nhiều phương diện. Đó là đối lập hình ảnh thơ: quê hương tươi đẹp và quê hương tiêu điều bị tàn phá. Các tính từ, động từ được sử dụng khi nói về quê hương và kẻ thù cũng trong thế đối lập.

    - Giọng thơ thay đổi linh hoạt từ đằm thắm thiết tha sang giọng thơ nghẹn ngào, đứt đoạn, đau xót.

    - Nội dung các bức tranh "Đám cưới chuột", "Mẹ con đàn lợn", được đưa vào mạch thơ phù hợp tạo nên nét thực, nét ảo của hình ảnh thơ; tô đậm chất Kinh Bắc.

    Bài đọc tham khảo

    Nếu thơ ca là tiếng vọng của lòng người vào năm tháng thời gian, để thương để nhớ lại cho đời thì bài "Bên kia sông Đuống" của thi sĩ Hoàng Cầm là một bài thơ mang tính chất kì diệu như vậy. Một đêm tháng 4 năm 1948, đang sống và chiến đấu giữa núi rừng Việt Bắc, thi sĩ nghe tin quê hương bị giặc Pháp chiếm đóng, tàn phá điêu tàn, chỉ trong một hai canh ông sáng tác bài thơ này. "Bên kia sông Đuống" xuất hiện lần đầu tiên trên báo "Cứu quốc" tháng 6-1948, nó được nhanh chóng phổ biến từ chiến khu Việt Bắc tới khu Ba, khu Bốn, vào miền Nam và ra tận Côn Đảo. Nó là một trong những bài thơ hay nhất viết về quê hương đất nước trong thơ ca Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp.

    Trong phần "Vĩ thanh" của tập thơ "Về kinh Bắc" in năm 1994, thi sĩ Hoàng Cầm có viết một đôi dòng về bối cảnh và cảm hứng của mình khi sáng tác bài thơ "Bên kia sông Đuống":

    ... tôi đang ở trong trạng thái bồn chồn, thao thức, tâm tư, rối bời sau khi nghe báo cáo về quê hương mình bị giặc xâm lược kéo lên tàn phá, giết chóc, tôi chưa định viết gì, lúc quá nửa đêm vắng lặng, bỗng văng vẳng bên tai ba câu:

    "Em ơi buồn làm chi

    Anh đưa em về bên kia sông Đuống

    Ngày xưa... cát trắng phẳng lì...".

    Tôi chộp lấy, ghi ngay và cứ thế cảm xúc trào ra một mạch dài, viết rất nhanh, sợ không theo kịp những thanh âm làn điệu đang cuồn cuộn dâng lên trong lòng mình. Cho đến gần sáng thì xong bài thơ, một trong những bài được các bạn già, trẻ, nam nữ yêu mến đã gần nửa thế kỉ...".

    Mười câu đầu bài thơ, thi sĩ nói lên nỗi nhớ thương da diết về con sông Đuống thân yêu. Nỗi nhớ thương đau buồn gắn liền với nỗi xót xa "như rụng bàn tay!". Tiếp đó là phần chính của bài thơ gợi lên cảnh tan tác, điêu tàn của quê hương yêu dấu:

    "Bên kia sông Đuống

    ...................................

    Bây giờ tan tác về đâu?"

    Đoạn thơ dài 15 câu là sự trải rộng tấm lòng tha thiết và bồi hồi, của đứa con đi xa đối với nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Một tình quê đằm thắm dào dạt. "Bên kia sông Đuống"  - Bên này là đất tự do, nhà thơ hướng lòng mình về "Bên kia" là vùng bị giặc chiếm đóng và giày xéo. Đó là vùng Thuận Thành thương yêu.

    "Quê hương ta" đẹp lắm, đáng tự hào biết bao! Sông Đuống êm đềm, lững lờ "trôi đi một dòng lấp lánh" nên thơ. Một màu xanh bạt ngàn như dẫn hồn nhà thơ đi về cõi mộng. Bức tranh quê thân mật, bình dị "Xanh xanh bãi mía bờ dâu - Ngô khoai biêng biếc" đã để thương để nhớ cho đứa con li hương. Màu xanh ngọt ngào của đồng quê yêu dấu đã trở thành mảnh tâm hồn của kẻ xa quê.

    "Quê hương ta" đẹp lắm. Một miền quê trù phù đáng yêu. "Hương lúa nếp thơm nồng" từ những cánh đồng quê tươi tốt đã tỏa rộng trong không gian thời gian, đã thấm sâu vào hồn người không thể nào phai nhạt được. Hương vị đậm đà của quê nhà chẳng phải là "canh rau muống với cà dầm tương" mà là "hương lúa nếp thơm nồng" - thơm ngào ngạt dâng lên trong những ngày mùa, trong hương cốm mới, trên mâm cỗ ngày giỗ ngày tết... đã thấm đượm một mối tình quê vơi đầy. Trong khói lửa chiến tranh, đứa con li hương quên sao được "hương lúa nếp thơm nồng" của quê cha đất mẹ?

    Kinh Bắc - quê hương yêu dấu của Hoàng Cầm là một miền đất cổ kính có bề dày văn hóa qua các triều đại phong kiến Lý, Trần, Lê. Là quê hương của những vương phi, hoàng hậu, những cành vàng lá ngọc... Là nơi sản sinh ra nhiều trạng nguyên, tiến sĩ của đất nước ta mà câu đồng dao đã khắc vào năm tháng: "Một bồ ống cống - Một đống ông nghè - Một bè tiến sĩ - Một bị trạng nguyên - Một thuyền bảng nhỡn...". Là một vùng quê có bao danh lam thắng cảnh, những non tiên, núi gấm, những chùa chiền... đã đi vào huyền thoại cổ tích. Là quê hương của những hội hè đình đám: "Mồng bảy hội Khám, mồng tám hội Dâu - Mồng chín đâu đâu cũng về hội Gióng" (Tục ngữ). Thương nhớ "Quê hương ta" tiếng thơ của Hoàng Cầm cất lên tha thiết tự hào:

    "Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong,

    Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp".

    Các từ ngữ "tươi trong", "sáng bừng" gợi tả đường nét, gam màu tươi, sáng, thanh nhẹ đẹp tươi... đã làm hiện lên trong tâm hồn chúng ta những bức tranh dân gian với đề tài bình dị, thân thuộc được treo trong ngày tết đón xuân sang. Tranh gà lợn, tranh đánh đu, đấu vật, tranh Tố nữ, thầy đồ Cóc, đám cưới chuột, tranh hứng dừa, tranh đánh ghen, tranh Bà Trưng cõi voi ra trận, tranh Phù Đổng Thiên Vương... tất cả đều diễn tả khát vọng, mơ ước nghìn đời của nhân dân ta. Cảnh sắc làng quê, sinh hoạt làng xã của  "mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên..." như "sáng bừng" trong tâm hồn mỗi chúng ta, "sáng bừng trên giấy điệp". Tranh Đông Hồ thể hiện bản sắc nền văn hóa Việt Nam. Trên nền giấy dó láng mọt lớp điệp mỏng óng ánh làm nền, được chắt luyện từ vỏ sò, màu sắc tranh Đông Hồ: màu son, màu tím sim, màu cánh sen, màu vàng nghệ, màu xanh lá mạ, màu lá chuối tơ... đúng là "màu dân tộc" đã làm "sáng bừng" một tình quê Kinh Bắc.

    "Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên",... còn đâu nữa? Từ bồi hồi hoài niệm, giọng thơ trở nên đau xót, căm giận, nghẹn ngào. Cảnh thanh bình trên quê hương Kinh Bắc vụt tan vỡ. Xóm làng quê hương chìm trong bóng giặc. Giặc tràn tới giày xéo, đốt phá và chém giết. Bao trùm lên xóm làng quê hương là "ngùn ngụt lửa hung tàn" chết chóc:

    "Quê hương ta từ ngày khủng khiếp

    Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn".

    Vần thơ như tiếng nấc nghẹn ngào và căm giận. Câu thơ bỗng rút ngắn lại 3, 4 từ. Hình ảnh tang thương và điêu tàn nối tiếp xuất hiện như một cuốn phim, đoạn phim cận cảnh làm nhức nhối tim gian:

    "Ruộng ta khô

    Nhà ta cháy

    Chó ngộ một đàn

    Lưỡi dài lê sắc máu

    Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang".

    Một không gian bao la bị đốt phá, bị giày xéo. Sự sống bị hủy diệt đến "kiệt cùng". Ruộng vườn, nhà cửa của nhân dân ta từ bao đời nay bỗng chốc bị "lửa hung tàn" làm cho "khô", làm cho "cháy". Màu xanh biêng biếc của lúa ngô khoai bị tàn lụi kiệt cùng. Xóm làng tan hoang. "Ngõ thẳm bờ hoang" vốn là nơi hẻo lánh, khuất nẻo hoang vắng, thế mà từ ngày "khủng khiếp" cũng bị lũ giặc tàn phá đến "kiệt cùng", điêu linh. Nếu như trong "Bình Ngô đại cáo", Nguyễn Trãi căm giận lên án quân "cuồng Minh" là "hung tàn", là quân "cường bạo", cực kì ghê tởm: "Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán" thì ở đây Hoàng Cầm khinh bỉ, căm thù gọi giặc Pháp là bầy "chó ngộ" - chó điên - "lưỡi dài lê sắc máu". Hình ảnh thơ nói về lũ giặc rất sáng tạo, đã khơi dậy bao căm giận đối với quân xâm lược trong nửa thế kỉ nay.

    Giặc đã kéo tới chiếm đóng và tàn phá quê hương. Nỗi đau về vật chất cùng với nỗi đau về tinh thần như được nhân lên nhiều lần. Đình đền, chùa chiền bị đập phá. Còn đâu nữa tiếng chuông ngân sớm chiều? Còn đâu nữa những bức tranh Đông Hồ? "Đàn lợn âm dương", "Đám cưới chuột"... là hai bức tranh nổi tiếng nói lên ước mơ no ấm, hạnh phúc và cách ứng xử của nhân dân, chẳng có tội tình gì cũng bị quân thù hủy diệt đến "kiệt cùng" đau đớn!

    "Mẹ con đàn lợn âm dương

    Chia lìa đôi ngả

    Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã

    Bây giờ tan tác về đâu?"

    Thực tại và mộng ảo như trộn lẫn vào nhau, hình ảnh "tan tác" trong tranh trở thành sự thật "khủng khiếp" ngoài đời. Trong những câu thơ trên nỗi đau xót, căm thù được khắc sâu bằng sự đối lập giữa hai cảnh trước và sau, thanh bình và chiến tranh, tương phản giữa ngôn từ - Xưa kia, những năm tháng bình yên thì "tưng bừng rộn rã", "bây giờ" khi giặc tràn tới thì "chia lìa đôi ngả", "tan tác về đâu?".

    Câu thơ "Bây giờ tan tác về đâu?" và "Bây giờ đi đâu về đâu" là những câu thơ hay, cảm động, được nhắc lại nhiều lần như một điệp khúc. Nỗi đau như xé lòng. Quê hương mịt mù khói lửa. Nỗi đau đớn xót xa tưởng như không còn giới hạn nào, không thể nào kể xiết!

    Viết về tội ác quân xâm lược, hầu như nhà thơ nào cũng để lại những câu thơ tâm huyết làm xúc động lòng người. Đó là "những vần thơ một thời mà mãi mãi":

    - "Bỗng cuối mùa chiêm quân giặc tới

    Ngõ Chùa cháy đỏ những thân cau".

    ("Núi Đôi" - Vũ Cao)

    - "Giặc về giặc chiếm đau xương máu

    Đau cả lòng sông, đau cỏ cây".

    ("Quê mẹ" - Tố Hữu)

    - "Làng ta mấy lần bom giội nát

    Dừa ngã ngổn ngang, xơ xác bờ tre".

    ("Trở về quê nội" - Lê Anh Xuân)

    - v.v...

    Thơ hay là thơ có hồn. Đoạn thơ trên đây từ cảm xúc đến ngôn ngữ, hình tượng đã để lại trong lòng người đọc những tình cảm sâu sắc, những ấn tượng mạnh mẽ về tình người, tình quê hương, đất nước. Cấu trúc đoạn thơ thành 2 mảnh đối lập: quá khứ thanh bình, yên vui, tươi đẹp với hiện tại đau thương, xót xa, có tác dụng như một lời kết tội đanh thép quân xâm lược. Hoài niệm đẹp về quê hương gắn liền với hiện tại điêu tàn, để ta "nhớ tiếc", để ta "xót xa" và căm giận. Tình yêu quê mẹ đất cha, yêu dòng sông Đuống "ngày xưa", yêu màu sắc hương vị của lúa ngô khoai, của tranh Đông Hồ... được Hoàng Cầm nói lên một cách thiết tha, sâu nặng. Chất Kinh Bắc được thể hiện một cách tài hoa độc đáo, làm nên vẻ đẹp thẩm mĩ bài thơ "Bên kia sông Đuống" để ta yêu quý và trân trọng.

    Bài làm (Câu 3)

    Các ý chính:

    1. Giới thiệu tác phẩm và hình tượng con Sông Đà.

    - Người lái đò Sông Đà (in trong tập Sông Đà - 1960) là một bài kí đặc sắc của Nguyễn Tuân viết về thiên nhiên và con người Tây Bắc.

    - Hình tượng con Sông Đà trong hai hình tượng chính của tác phẩm.

    2. Phân tích hình tượng con Sông Đà.

    a) Con sông hung bạo.

    - Nguyên nhân: do những quãng sông hẹp (như cái yết hầu) kẹp giữa hai vách núi dựng đứng, dưới đáy sông lại có những trùng vi thạch trận.

    - Biểu hiện của cái dữ dội:

    + Âm thanh (“khiêu khích”, “chế nhạo”, khi thì rống lên như tiếng rống của ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng lửa…).

    + Hình thù (như những vòng vây khủng khiếp có thể nuốt chửng, xé con thuyền ra làm nhiều mảnh…)

    + Tính cách (một “kẻ thù số một”, “xảo quyệt”, "độc dữ", "nham hiểm").

    Tóm lại, con sông như một thế lực hung bạo chống lại người lái đò.

    b) Con sông trữ tình đẹp “mĩ lệ”.

    - Con sông được ví như “một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo”. Con sông được tác giả miêu tả như một sinh thể sống động.

    - Màu sắc của sông Đà cũng rất đẹp (“Mùa xuân dòng xanh ngọc bích”, “Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa,…”). Những quãng “êm đềm trôi lững lờ đôi bờ cây cối tốt tươi”.

    3. Kết luận.

    a) Con sông được tái hiện trong mọi không gian và thời gian, rất biến hoá, sống động với mọi hình thù, âm thanh, màu sắc.

    b) Hai vẻ đẹp của con sông thể hiện rõ phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân:

    - Hãy tìm đến với cái dữ dội hùng vĩ, cái đẹp hữu tình nên thơ của thiên nhiên.

    - Khám phá và thể hiện đối tượng bằng con mắt thẩm mĩ.

    c) Ẩn sau vẻ đẹp của hình tượng con Sông Đà là tấm lòng yêu thiên nhiên, yêu Tổ quốc của người nghệ sĩ tài hoa - Nguyễn Tuân.
  • Tâm trạng hàng ngày
    Ngủ
    9-7-2012 10:42 PM
  • Đã viết: 10 ngày

    [LV.3]Spam 3

     Tác giả| Đăng lúc 20-6-2011 03:44 PM | Xem tất
    “Đời thừa”, Nam Cao / "Tràng giang" của nhà thơ Huy Cận / "Vợ chồng A Phủ" - Tô Hoài



    * Câu 1.

    Phần cuối tác phẩm “Đời thừa”, Nam Cao đã để nhân vật Hộ khóc: “Ôi chao! Hắn khóc! Hắn khóc nức nở, khóc như thể không ra tiếng khóc…”; nhà văn cũng miêu tả cảnh Từ dỗ con trong tiếng hát “ướt lệ”:

             “Ai làm cho khói lên giời,

    Cho mưa xuống đất, cho người biệt li;

             Ai làm cho Nam, Bắc phân kì,

    Cho hai hàng lệ đầm đìa tấm thân…”.

    Cảnh kết thúc này giúp anh (chị) hiểu thêm gì về giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của truyện “Đời thừa”?

    * Câu 2.

    Phân tích khổ thơ sau trong bài thơ "Tràng giang" của nhà thơ Huy Cận:

    "Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

    Chim nghiêng cánh nhỏ; bóng chiều sa.

    Lòng quê dợn dợn vời con nước

    Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà".

    * Câu 3.

    Phân tích tâm trạng nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân được Tô Hoài miêu tả ở phần đầu tác phẩm "Vợ chồng A Phủ".

    HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

    Bài làm (Câu 1)

    Các ý chính:

    1. Giới thiệu khái quát về tác phẩm.

    Trong mảng sáng tác về trí thức tiểu tư sản của Nam Cao, "Đời thừa" (1943) là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất. Truyện ngắn này đã nói lên một cách sâu sắc bi kịch thầm lặng, dai dẳng đau đớn của người trí thức nghèo trong xã hội cũ. Đó cũng là giá trị hiện thực và tấm lòng nhân đạo cao cả của chính Nam Cao. Một trong những phương diện góp phần thể hiện các giá trị của tác phẩm là cảnh kết thúc thiên truyện.

    2. Khái quát về tính chất của tấn bi kịch nhân vật Hộ.

    Nhân vật Hộ có một tấn bi kịch thầm lặng, dai dẳng, đau đớn. Anh đã không được sống đúng như mình mong muốn, nói cách khác là đã bị tha hóa, đồng thời Hộ cũng ý thức được sâu sắc về sự tha hoá đó. Chính sự ý thức này đã khiến cho anh không được yên ổn với bản thân mình dù trong một giây, một phút. Anh không thể san sẻ gánh nặng tinh thần của mình cho ai.

    3. Hiệu quả nghệ thuật của cảnh kết thúc trong việc bộc lộ các giá trị lớn của tác phẩm.

    a) Giá trị hiện thực:

    - Cũng như nhiều tác phẩm văn học hiện thực khác, tiếng khóc của Hộ cũng như lời ca ai oán của Từ ở cuối tác phẩm đã cho người đọc hiểu thế nào là cuộc sống bế tắc, khổ đau mang màu sắc bi kịch của người trí thức nghèo trong xã hội cũ.

    - Tiếng khóc của Hộ vừa là sự sám hối, ân hận trước hành động vũ phu, thô bạo đối với vợ con, vừa là tiếng nức nở nghẹn ngào, chua xót khi phải từ bỏ giấc mộng văn chương.

    - Lời ca của Từ phơi bày thực trạng đương thời: đất nước loạn li, Nam Bắc phân kì. Đó là một trong những nguyên nhân tạo nên bi kịch của nhân vật Hộ - cũng là bi kịch của tác giả Nam Cao. Đó là lời ru con trong nước mắt, trong nỗi buồn đau của người vợ, người mẹ từng trải qua nhiều bi kịch.

    b) Giá trị nhân đạo:

    - Tiếng khóc của Hộ, lời ca ai oán của Từ góp phần tố cáo mạnh mẽ cái xã hội thối nát đã làm tàn lụi tàn bao ước vọng của con người, khiến cho khả năng sáng tạo của con người bị thui chột đi trước sức ép ghê gớm của áo cơm. Thậm chí, nó làm cho nhân tính, thiên lương con người bị mai một nhem nhuốc đi. Nói cách khác, theo Nam Cao, xã hội bấy giờ là lực cản của mọi sự tiến bộ.

    - Sự dằn vặt của Hộ cho thấy dù bị cuốn đi, thành con "người thừa", "đời thừa" nhưng người trí thức không buông xuôi bất lực, vẫn cố sức cưỡng lại - sự cưỡng lại của anh có tính chất tuyệt vọng nhưng thật đáng quý. Nó chứng tỏ anh chưa bị tha hóa hoàn toàn.

    - Lời ca của Từ thể hiện tấm lòng nhân hậu đức hi sinh thầm lặng của người vợ, người mẹ trước cảnh ngộ, trước bi kịch buồn thương của gia đình.

    - Lời ca của Từ như là sự cảm thông chia sẻ của chính tác giả đối với nỗi khổ đau, dằn vặt trong tâm hồn Hộ, chia sẻ với Hộ nỗi đau tinh thần vì phải sống kiếp "đời thừa".

    4. Giá trị hiện thực và nhân đạo trong tác phẩm hòa quyện thống nhất vào nhau và cùng được tập trung biểu hiện rõ trong cảnh kết thúc nói trên.

    Bài làm (Câu 2)

    Ý chính cần có.

    1. Vài nét về tác giả và bài thơ.

    Vị trí và cảm hứng chủ đạo của đoạn thơ: là đoạn thơ hay nhất, tiêu biểu nhất về bức tranh thiên nhiên và nỗi lòng nhà thơ.

    2. Phân tích khổ thơ.

    a) Bức tranh thiên nhiên (hai câu đầu)

    - Cảnh sắc thiên nhiên đẹp kì vĩ lạ thường. Về mùa thu những đám mây trắng cứ "đùn" lên lớp lớp kia, được ánh dương phản chiếu lấp lánh như những "núi bạc". Cảnh hùng vĩ, mĩ lệ quá giống như cảnh thu trong thơ Đỗ Phủ. Một vẻ đẹp cổ điển.

    - Trước cảnh trời mây núi non bao la, xuất hiện một cánh chim chiều bé nhỏ. Cánh chim cô đơn quá, chỉ cần nghiêng cánh là cả bóng chiều sa xuống. Cánh chim ấy giống như một tia nắng cuối cùng còn rớt lại phía chân trời xa. Cảnh đẹp và buồn.

    - Sự đối lập giữa cánh chim bé nhỏ với vũ trụ bao la càng làm cho thiên nhiên càng trở nên rộng hơn, hùng vĩ hơn và đặc biệt cũng buồn hơn.

    b) Nỗi lòng thi nhân (hai câu tiếp).

    - Cả không gian, thời gian như đánh thức nỗi lòng thi nhân. Đó là cái "tôi" cô đơn trước một không gian rợn ngợp vô tận, vô cùng. Và hơn thế nữa là nỗi buồn nhớ quê hương da diết của nhà thơ.

    - Hai câu thơ vừa mang nét cổ điển vừa mang nét mới của Thơ mới, nhất là hồn thơ Huy Cận.

    + Hơn mười ba thế kỉ về trước, nhà thơ Trung Quốc Thôi Hiệu từng nói lên nỗi nhớ quê hương của mình trong câu thơ tuyệt hay "Quê hương khuất bóng hoàng hôn - Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai". Nhưng Thôi Hiệu nhớ quê hương khi nhìn thấy sóng trên sông nước, nỗi nhớ phụ thuộc vào hoàn cảnh...

    + Huy Cận lấy cái ý thơ của Thôi Hiệu, nhưng bằng cách nói mới mẻ của mình "Lòng quê dợn dợn vời con nước - Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà". Huy Cận nhớ quê hương cả khi "không khói hoàng hôn" mà lòng tác giả cứ "dợn dợn" lên như con sóng tràng giang vô tận vô cùng (vời con nước). Điều đó chứng tỏ nỗi nhớ quê hương của tác giả còn da diết hơn, sâu nặng hơn cả người xưa.

    - Nhận xét: Cảnh thiên nhiên trong bài thơ nói chung, trong đoạn thơ nói riêng là cảnh được tác giả cảm nhận rất tinh tế. Cảnh đẹp nhưng cũng hoang vắng vô cùng, cảnh chứa chất đầy tâm trạng của thi nhân.


    3. Kết luận.

    - Bức tranh thiên nhiên được cảm nhận một cách tinh tế vừa mang nét đẹp cổ điển vừa mang nét đẹp gần gũi, gắn bó, thân quen đối với mỗi con người Việt Nam. Bởi vậy, đọc khổ thơ nhiều người không khỏi nhớ tới quê hương bé nhỏ của mình.

    - Giá trị của khổ thơ chính là tấm lòng của thi nhân đối với quê hương yêu dấu, nhất là đối với những kẻ tha hương.

    Bài tham khảo

    "Lửa thiêng" (1940) của Huy Cận là một tập thơ sáng giá trong "Thơ mới" Việt Nam. Phong cảnh trong "Lửa thiêng", nhất là trong các bài thơ "Vạn lí tình", "Tràng giang", "Đẹp xưa"..., đều đượm một nỗi buồn man mác:

    "Tới ngã ba sông nước bốn bề

    Nửa chiều gà lạ gáy trên đê..."

    Đó là con sông Thâm bên núi Mồng Gà thuộc Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh, quê hương thân yêu của nhà thơ. Trong "Tràng giang", một nỗi buồn như dồn nén thấm sâu vào cảnh vật và lan xa muôn vàn con sóng, nhất là bốn câu kết của bài thơ:



    ... "Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

    Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa

    Lòng quê dợn dợn vời con nước

    Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà".

    Bao trùm cả bài thơ là một không gian nghệ thuật bao la, thật đẹp và cũng thật buồn. Có "Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp". Có "Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu". Có "Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng"... Và trước mắt nhà thơ là một khung cảnh bao la, vắng vẻ: "Sông dài, trời rộng, bến cô liêu".

    Khổ cuối nói đến hoàng hôn trên tràng giang. Một cái nhìn xa vời vợi. Trước mắt nhà thơ là những núi mây nhô lên, đùn lên "lớp lớp" màu trắng bạc. Cảnh sắc thiên nhiên rất tráng lệ. Bầu trời chắc là xanh thẳm, hoặc tím thẫm trong khoảnh khắc hoàng hôn nên màu mây ở cuối chân trời mới ánh lên màu "bạc" ấy. Giữa cái bao la mênh mông bỗng xuất hiện một cánh chim nhỏ nhoi. Cánh chim đang chở nặng bóng chiều, bay vội vã. Trên cái nền tím sẫm, nhạt nhòa của bóng chiều, hiện lên những núi bạc mây cao và một con chim lạc đàn "nghiêng cánh nhỏ". Hai nét vẽ ấy tượng trưng cho những cảnh chiều hôm trong tâm tưởng người lữ thứ: "Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi..." (Bà Huyện Thanh Quan). "Chim hôm thoi thót về rừng..." (Nguyễn Du). Nghệ thuật tương phản giữa cánh chim nghiêng nhỏ bé và mờ xa dần với núi mây bạc hùng vĩ, với trời đất bao la đã làm cho cảnh đất trời và tràng giang mênh mông hơn, xa vắng hơn, và cũng buồn hơn.

    Bốn câu kết mang ý vị cổ điển rất đậm đà. Ý vị ấy, màu sắc ấy được thể hiện ở hình ảnh nhà thơ một mình đứng lẻ loi giữa vũ trụ, bao la, lặng lẽ cảm nhận cái vĩnh viễn, cái vô cùng của không gian, thời gian đối với kiếp người hữu hạn. Một cánh chim, một núi mây bạc... cũng dẫn hồn ta đi về mọi nẻo, đến với mọi phía chân trời: "Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm - Mặt đất mây đùn cửa ải xa" (Đỗ Phủ). Ý vị cổ điển ấy lại được tô đậm bằng một tứ thơ Đường:

    "Lòng quê dợn dợn vời con nước

    Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà".

    Hơn mười ba thế kỉ trước, trong bài thơ "Hoàng Hạc lâu", Thôi Hiệu đã viết:

    "Quê hương khuất bóng hoàng hôn,

    Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai"

    (Tản Đà dịch)

    Huy Cận nhìn cao rồi nhìn xa theo tràng giang "vời con nước". Ở trên nhà thơ đã phủ định: "Không cầu gợi chút niềm thân mật...", ở đây ông lại nói: "Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà". Nỗi buồn cô đơn và nỗi nhớ quê tràn ngập tâm hồn khách tha hương trong buổi hoàng hôn, bên dòng sông đang mải miết trôi về tận phương nào xa xôi.

    Thơ Huy Cận hàm súc, cổ điển và có màu sắc triết lí suy tưởng. Một hồn thơ bơ vơ, sầu não ấy luôn hướng tới sự giao hòa giữa con người và tạo vật trên một không gian mênh mông, vắng lặng. Cảnh sắc trong "Tràng giang" đẹp mà buồn. Tình quê, "lòng quê" trong bốn câu kết thật vô cùng sâu sắc, thắm thiết. Đó là những vần thơ mãi mãi vương vấn lòng người trong mọi thời gian.

    Thơ thất ngôn trong "Tràng giang" mang vẻ đẹp cổ kính, trang trọng. Mỗi khổ thơ nếu đứng tách riêng ra sẽ trở thành một bài tứ tuyệt thể hiện sâu sắc cảm hứng mà tác giả đã viết trong lời đề từ: "Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài". Nỗi buồn bâng khuâng và nỗi nhớ ấy là của một tấm lòng đang hoài vọng quê hương. Âm điệu đoạn thơ trầm buồn như muôn ngàn sóng gợn "buồn điệp điệp" trong lòng người đọc bấy lâu nay. Cảnh sắc hoàng hôn và lòng quê được nói đến trong đoạn thơ mãi mãi khơi gợi trong ta hình bóng quê hương yêu dấu. Tràng Giang đã và đang mang theo bao vạn lí tình trong hồn ta...

    Bài làm (Câu 3)

    Phân tích tâm trạng nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân được Tô Hoài miêu tả ở phần đầu tác phẩm "Vợ chồng A Phủ".

    Bài đọc tham khảo

    Đề tài Tây Bắc in đậm trong sự nghiệp văn chương của Tô Hoài: "Truyện Tây Bắc", "Miền Tây", "Họ Giàng ở Phìn Sa"... Truyện "Vợ chồng A Phủ" mang ý nghĩa như một "chiến công" của nhà văn Hà Nội này khi theo bộ đội vào giải phóng Tây Bắc (1952). Truyện kể về cuộc đời của Mị và A Phủ ở Hồng Ngài trong nhà thống lí Pá Tra và khi làm chiến sĩ du kích ở căn cứ Phiềng Sa. Qua đó, tác giả nói lên nỗi thống khổ và sự vùng dậy của người Mèo ở Tây Bắc, một lòng quyết tâm tham gia kháng chiến để giành lấy tự do, tình yêu và hạnh phúc.

    Nhân vật Mị là một sáng tạo đặc sắc của Tô Hoài. Đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài là tình tiết cảm động nhất, hay nhất của truyện đã thể hiện khát vọng sống, khao khát tình yêu của người con dâu gạt nợ.

    1. Mị mồ côi mẹ, ở với cha già. Mị xinh đẹp, tuổi xuân phơi phới. Vì món nợ truyền kiếp, Mị trở thành con dâu gạt nợ nhà thống lí Pá Tra. Tuổi xuân của Mị bị thằng A Sử, con trai thống lí tước đoạt, giày xéo. Mị khổ như con trâu con ngựa. Mị toan ăn lá ngón tự tử, nhưng thương cha già, Mị chết không đành lòng. Sống trong đau khổ, Mị gần như vô cảm vô hồn "càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa".

    2. Xuân qua rồi xuân lại trở lại. Đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài lại đến. Cả một không gian tưng bừng. Lúa ngô ở các nương đã thu hoạch xong. Gió và rét dữ dội. Cảnh sắc làng Mèo càng đẹp. Màu "vàng ửng" của cỏ gianh. Màu trắng, màu đỏ au, đỏ thậm, màu tím man mát của hoa thuốc phiện vừa nở. Màu "sặc sỡ" của những chiếc váy hoa phơi trên mỏm đá xòe như con bướm. Tiếng "cười ầm" của đám trẻ con chơi quay. Tiếng sáo thổi rủ bạn đi chơi. Tiếng chó sủa xa xa... Trước cảnh tưng bừng ấy, cứ tưởng Mị "Riêng mình nào biết có xuân là gì?”. Nhưng thật bất ngờ. Những đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài đã hồi sinh và hồi xuân tâm hồn Mị. Tâm trạng và hành động Mị được Tô Hoài thể hiện một cách tinh tế, xúc động.

    3. Trong lúc trai gái và lũ trẻ con tụ tập đánh pao, đánh quay, thổi sáo, thổi khèn và nhảy trên sân chơi thì Mị "tha thiết bồi hồi" khi nghe tiếng sáo từ đầu núi "vọng lại". Mị "nhẩm thầm" bài hát của người đang thổi sáo:

    "... Ta không có con trai con gái - Ta đi tìm người yêu....". Sau bao mùa xuân câm lặng, có lẽ đây là lần đầu tiên người con dâu gạt nợ khẽ thầm hát?

    Tiếng sáo đã gợi thương gợi nhớ và thức tỉnh. Mị lén lấy hũ rượu, "uống ừng ực từng bát". Uống rượu như nuốt hận. Hay uống cho vơi đi nỗi đau khổ? Say rượu "lịm mặt", tâm trạng Mị diễn biến. Mị hồi tưởng "sống về ngày trước". Tiếng sáo gọi bạn tình "văng vẳng" trong tai Mị. Bao kỉ niệm đẹp thời con gái sống dậy trong lòng Mị. Mị thổi sáo giỏi... Có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị. Hồi tưởng lại mùa xuân đẹp thời con gái, điều đó cho thấy Mị đã được thức tỉnh. Khát vọng sống như ngọn lửa đã bừng sáng tâm hồn Mị.

    Mị "từ từ bước vào buồng" với tâm trạng "thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm tết ngày trước". Mị được thức tỉnh, tự ý thức là mình "trẻ lắm", "vẫn còn trẻ". Mị khao khát "Mị muốn đi chơi".

    Khát vọng sống như ngọn lửa bừng cháy bao nhiêu Mị lại phẫn uất bấy nhiêu! Phẫn uất và đau khổ cho thân phận và số phận trớ trêu đầy bi kịch. Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi ngày Tết. A Sử với Mị "không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau!". Không thể cam chịu mãi kiếp con dâu gạt nợ. Mị muốn ăn lá ngón cho chết ngay! Uất ức, nước mắt Mị ứa ra, khi tiếng sáo gọi bạn yêu "vẫn lửng lơ bay ngoài đường". Tâm hồn Mị diễn biến phức tạp trong quá trình thức tỉnh, nổi loạn. Mị đang sống trong nghịch lí giữa thân phận con dâu gạt nợ và niềm phơi phới muốn đi chơi Tết. Liệu Mị có dám phá tung và cắt đứt sợi dây oan nghiệt đang thít chặt lấy số phận, thân phận mình để đến với những cuộc chơi cùng với tiếng sáo gọi bạn yêu?

    4. Mị vào buồng lần này không phải để nhìn qua "cái lỗ vuông" để nghĩ đến cái chết, mà Mị đã hành động một cách mạnh mẽ, ngang nhiên trước mặt A Sử khi hắn xuất hiện bất ngờ trong buồng. A Sử thay áo mới, khoác thêm hai vòng bạc... để đi chơi rình bắt gái đem về làm vợ. Mị cũng chuẩn bị đi chơi Tết. Như thách thức. Mị đã hành động. Xắn thêm miếng mỡ bỏ vào đĩa đèn cho sáng. Quấn lại tóc. Với tay lấy cái váy hoa. Rút thêm cái áo. A Sử nhìn Mị, Mị "cũng không nói" hay không thèm nói? Hàng loạt hành động "nổi loạn" của Mị diễn ra liên tiếp khi tiếng sáo đang "rập rờn" trong đầu Mị. Tiếng sáo gọi bạn tình như đem đến cho Mị một sức mạnh mới, khơi gợi lòng khao khát yêu đương và hạnh phúc. Khi Mị với tay lấy váy hoa... là Mị thực sự được thức tỉnh, được sống lại thời con gái với bao ước mơ đẹp.

    5. Sự phản kháng của Mị phải trả giá nặng nề. Chỉ sau một câu hỏi: "Mày muốn đi chơi à? Thằng A Sử độc ác đã trói Mị vào cột nhà bằng một thúng sợi đay. Hai tay Mị bị trói bằng dây thắt lưng, tóc Mị quấn lên cột, Mị "không cúi, không nghiêng được đầu nữa". Thể hiện diễn biến tâm trạng và hành động Mị trong cảnh Mị bị trói trong đêm tình mùa xuân, ngòi bút nghệ thuật của Tô  Hoài như đã "nhập hồn" vào nhân vật. Trong bóng tối, Mị "đứng im lặng". Hơi rượu còn "nồng nàn" như nâng đỡ tâm hồn Mị. Quên đau khổ, đau đớn thực tại, Mị "vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám chơi". Mị vùng bước đi, lòng "bồi hồi" theo tiếng sáo: "Em không yêu quả pao rơi rồi - Em yêu người nào, em bắt pao nào...". Mị lại trở lại thực tại đau đớn, khổ nhục "tay chân đầu không cựa được". Mị "thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa" khi nghe tiếng ngựa "gãi chân", nhai cỏ, tiếng chó sủa xa xa. Mị nghĩ đến những cảnh tình tự của bao cặp tình nhân giờ này đã "dỡ vách ra rừng chơi". Mị nín khóc, Mị lại bồi hồi trong trạng thái lúc mê lúc tỉnh. Dây trói thít lại, đau nhức. Hơi rượu tỏa, Mị "nồng nàn tha thiết nhớ".

    Bị trói đứng suốt đêm, Mị "bàng hoàng tỉnh" lúc trời sáng. Chỉ nghe tiếng lửa réo - Không một tiếng động - Mị nghĩ đến các vợ chú, thương những người đàn bà "khốn khổ sa vào nhà quan"; thương người đàn bà nọ bị chồng trói chết trong nhà thống lí. Mị vừa thương mình, vừa thương người, thương cho thân phận những người đàn bà ở Hồng Ngài "một đời con người chỉ biết đi theo đuôi con ngựa của chồng". Mị sợ hãi "cựa quậy" xem mình còn sống hay chết. Dây trói siết chặt lại "đau dứt từng mảnh thịt".

    Nhờ một sự tình cờ mà Mị thoát chết trong đêm hãi hùng đó. Đoạn văn đêm tình mùa xuân có 3 cảnh. Cảnh Mị ngồi nhẩm thầm tiếng sáo và lén uống rượu ừng ực từng bát. Cảnh Mị chuẩn bị váy áo đi chơi. Cảnh Mị bị A Sử trói đứng suốt đêm trong buồng. Cảnh nào, chi tiết nào cũng sinh động, điển hình cho bi kịch của Mị, của người con dâu gạt nợ. Đoạn văn đêm tình mùa xuân thể hiện ngòi bút kể chuyện cảm động, phân tích diễn biến tâm trạng và hành động nhân vật một cách tinh tế, sâu sắc. Tiếng sáo gọi bạn tình được Tô Hoài nhắc đi nhắc lại 13 lần đầy ám ảnh, như thức tỉnh, như lay gọi, như vỗ về niềm khao khát đi chơi Tết, khao khát được sống trong tình yêu và mùa xuân của người con dâu gạt nợ.

    Sự "nổi loạn" của Mị cho thấy sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị mà máu và sự dã man không thể nào vùi dập được! Đêm tình mùa xuân thấm đẫm tính nhân văn. Nó đã góp  phần tô đậm tính cách nhân vật Mị. Nó đã thể hiện một cách xúc động giá trị hiện thực và tinh thần nhân đạo của truyện "Vợ chồng A Phủ".
  • Tâm trạng hàng ngày
    Ngủ
    9-7-2012 10:42 PM
  • Đã viết: 10 ngày

    [LV.3]Spam 3

     Tác giả| Đăng lúc 20-6-2011 03:44 PM | Xem tất
    "Vi hành" của Nguyễn Ái Quốc / Vợ nhặt" (Kim Lân)/ "Sóng" của Xuân Quỳnh



    * Câu 1.

    Anh (chị) hãy trình bày ngắn gọn hoàn cảnh ra đời và mục đích sáng tác truyện ngắn "Vi hành" của Nguyễn Ái Quốc.

    * Câu 2.

    Anh (chị) hãy phân tích giá trị nhân đạo sâu sắc của truyện ngắn "Vợ nhặt" (Kim Lân).

    * Câu 3.

    Bình giảng đoạn thơ sau đây trong bài "Sóng" của Xuân Quỳnh:

    "Con sóng dưới lòng sâu

    Con sóng trên mặt nước

    Ôi con sóng nhớ bờ

    Ngày đêm không ngủ được

    Lòng em nhớ đến anh

    Cả trong mơ còn thức

    Dẫu xuôi về phương Bắc

    Dẫu ngược về phương Nam

    Nơi nào em cũng nghĩ

    Hướng về anh - một phương"

    (Văn học 12, Tập 1, Phần Văn học Việt Nam, NXB Giáo dục, 2002, tr. 229)

    HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

    Bài làm (Câu 1)

    Các ý chính:

    1. Trình bày ngắn gọn về hoàn cảnh ra đời của truyện "Vi hành".

    a) Năm 1922, thực dân Pháp đưa Khải Định sang "mẫu quốc" nhân cuộc "đấu xảo thuộc địa" tổ chức tại Mác-xây. Mục đích của bọn thực dân là vừa vuốt ve Khải Định, vừa lừa gạt dân Pháp khiến họ tin rằng sự "bảo hộ" của nước Pháp được dân Việt Nam hoan nghênh. Khi sang Pháp, Khải Định đã phô bày tất cả sự ngu dốt, lố lăng của một tên vua bù nhìn, khiến cho những người Việt Nam yêu nước hết sức bất bình.

    b) Thời gian này, Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động cách mạng ở Pháp. Người đã viết nhiều tác phẩm công kích chuyến đi nhục nhã của Khải Định như "Con rồng tre, Sở thích đặc biệt, Lời than vãn của Bà Trưng Trắc,...", "Vi hành" là tác phẩm cuối cùng nằm trong loạt tác phẩm đó, được đăng trên báo Nhân đạo của Đảng Cộng sản Pháp vào đầu năm 1923.

    2. Nêu mục đích sáng tác truyện "Vi hành".

    a) "Vi hành" chủ yếu vạch trần bộ mặt xấu xa của Khải Định - một tên vua bán nước có nhân cách tồi tệ.

    b) "Vi hành" cũng đả kích mạnh mẽ bọn thực dân Pháp với các chính sách "khai hoá" thâm độc và hành động vi phạm nhân quyền trắng trợn của chúng (cho lũ mật thám thường xuyên theo dõi Nguyễn Ái Quốc cùng những người Việt Nam yêu nước khác trên đất Pháp, đặc biệt là vào thời điểm diễn ra sự kiện nói trên).

    Bài làm (Câu 2)

    1. Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm.

    - "Vợ nhặt" là một trong những truyện ngắn hay nhất của Kim Lân và của văn học Việt Nam sau năm 1945. Truyện được in trong tập "Con chó xấu xí" (1962).

    - "Vợ nhặt" có giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc. Thông qua tình huống "nhặt vợ" ngồ ngộ mà đầy thương tâm, tác giả đã cho ta thấy được nhiều điều về cuộc sống tối tăm của những người lao động trong nạn đói năm 1945 cũng như khát vọng sống mãnh liệt và ý thức về nhân phẩm rất cao của họ.

    2. Giải thích khái niệm.

    Giá trị nhân đạo là một giá trị cơ bản của những tác phẩm văn học chân chính, được tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc đối với nỗi đau của con người, sự nâng niu, trân trọng những nét đẹp trong tâm hồn con người và lòng tin vào khả năng vươn dậy của họ.

    3. Phân tích giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm với các biểu hiện chính.

    a) Tác phẩm bộc lộ niềm xót xa, thương cảm đối với cuộc sống bi đát của người dân nghèo trong nạn đói, qua đó tố cáo tội ác tày trời của bọn thực dân, phát xít đối với nhân dân ta (điểm qua các chi tiết miêu tả xóm ngụ cư trong nạn đói: những xác người còng queo, tiếng quạ gào thê thiết, tiếng khóc hờ trong đêm, mùi xác chết gây gây, những khuôn mặt u ám, những dòng người ủ rũ, những nỗi lo âu,...).

    b) Tác phẩm đi sâu khám phá và nâng niu trân trọng khát vọng hạnh phúc, khát vọng sống của con người.

    - Những khao khát hạnh phúc của Tràng (cái "tặc lưỡi" có phần liều lĩnh, cảm giác mới mẻ "mơn man khắp da thịt", những sắc thái khác nhau của tiếng người cười, sự "tiêu hoang" (mua hai hào dầu thắp), cảm giác êm ái lửng lơ sau đêm tân hôn,...)

    - Ý thức bám lấy sự sống rất mạnh mẽ ở nhân vật "vợ nhặt" (chấp nhận "theo không" Tràng, bỏ qua ý thức về danh dự).

    - Ý thức vun đắp cho cuộc sống ở các nhân vật (bà cụ Tứ bàn về việc đan phên ngăn phòng, việc nuôi gà; mẹ chồng nàng dâu thu dọn cửa nhà quang quẻ,...).

    - Niềm hi vọng về một cuộc đổi đời của các nhân vật (hình ảnh lá cờ đỏ vấn vương trong tâm trí Tràng,...).

    c) Tác phẩm thể hiện lòng tin sâu sắc vào sự đổi đời, vào lòng nhân hậu của con người.

    - Cái đẹp tiềm ẩn của Tràng: sự thông cảm, lòng thương người, sự hào phóng, chu đáo (đãi người đàn bà bốn bát bánh đúc, mua cho chị ta cái thúng con, cùng chị đánh một bữa no nê), tình nghĩa và thái độ trách nhiệm,...

    - Sự biến đổi của người "vợ nhặt" sau khi theo Tràng về nhà: vẻ chao chát, chỏng lỏn ban đầu biến mất, thay vào đó là sự hiền hậu, đúng mực, sự mau mắn trong việc làm, sự ý tứ trong cách cư xử,...

    - Tấm lòng nhân hậu của bà cụ Tứ: thương con rất mực, cảm thông với tình cảnh của nàng dâu, trăn trở về bổn phận làm mẹ, cố tạo niềm vui trong gia đình giữa cảnh sống thê thảm,...

    4. Đánh giá chung về giá trị nhân đạo của tác phẩm.

    Điểm đáng nói nhất về giá trị nhân đạo của tác phẩm này là niềm tin tưởng sâu sắc vào con người lao động, vào bản năng sống, khát vọng sống mạnh mẽ của họ. Tình cảm nhân đạo ở đây rõ ràng có nét mới mẻ so với tình cảm nhân đạo được thể hiện trong nhiều tác phẩm văn học hiện thực trước Cách mạng.

    Bài làm (Câu 3)

    Các ý chính:

    1. Giới thiệu về tác giả, tác phẩm và vị trí đoạn trích.

    - Xuân Quỳnh (1942 - 1988) là một trong những gương mặt nổi bật của thế hệ nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

    - "Sóng" là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ Xuân Quỳnh: luôn luôn trăn trở, khát khao được yêu thương gắn bó. Bài thơ được in ở tập "Hoa dọc chiến hào" (1968).

    - Đoạn thơ trích nằm ở phần giữa của bài thơ. Có thể xem đó là đoạn tiêu biểu của tác phẩm. Giống như toàn bài, ở đoạn thơ này, hai hình tượng sóng và em luôn tồn tại đan cài, khắc họa rõ nét nỗi nhớ, sự thuỷ chung tha thiết của em. Mỗi trạng thái tâm hồn của người phụ nữ đều có thể tìm thấy sự tương đồng với một đặc điểm nào đó của sóng.

    2. Bình giảng sáu câu thơ đầu.

    - Nỗi nhớ bao trùm cả không gian, thời gian: lòng sâu - mặt nước, ngày - đêm.

    - Nỗi nhớ thường trực, không chỉ tồn tại khi thức mà cả khi ngủ, len lỏi cả vào trong giấc mơ, trong tiềm thức ("Cả trong mơ còn thức").

    - Cách nói cường điệu nhưng đúng và chân thành biểu hiện nỗi nhớ của một tình yêu mãnh liệt ("Ngày đêm không ngủ được").

    - Mượn hình tượng sóng để nói lên nỗi nhớ chưa đủ, chưa thỏa, nhà thơ trực tiếp bộc lộ nỗi nhớ của mình ("Lòng em nhớ đến anh").

    3. Bình giảng bốn câu thơ tiếp theo.

    - Khẳng định lòng thuỷ chung: dù ở phương trời nào, nơi nào cũng chỉ "Hướng về anh - một phương".

    - Trong cái đêm mênh mông của đất trời, đã có phương bắc, phương nam thì cũng có phương anh. Đây chính là "phương tâm trạng", "phương" của người phụ nữ đang yêu say đắm, thiết tha hướng tới.

    4. Một số điểm đặc sắc về mặt nghệ thuật của cả đoạn thơ.

    - Thể thơ năm chữ được dùng một cách sáng tạo, nhịp của sóng biển, nhịp lòng của em.

    - Các biện pháp điệp từ, điệp cú góp phần tạo nên nhịp điệu nồng nàn, say đắm, thích hợp cho việc diễn tả nỗi nhớ mãnh liệt: "con sóng" (ba lần), "dưới lòng sâu - trên mặt nước, dẫu xuôi - dẫu ngược...".

    5. Kết luận.

    - Trong đoạn thơ, Xuân Quỳnh đã thể hiện rất gợi cảm, sinh động những trạng thái cảm xúc, những khao khát mãnh liệt của người con gái đang yêu.

    - Từ đoạn thơ, có thể nói với tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam trong tình yêu: táo bạo, mạnh mẽ nhưng vẫn giữ được nét truyền thống tốt đẹp (sự thuỷ chung, gắn bó).
  • Tâm trạng hàng ngày
    Ngủ
    9-7-2012 10:42 PM
  • Đã viết: 10 ngày

    [LV.3]Spam 3

     Tác giả| Đăng lúc 20-6-2011 03:45 PM | Xem tất
    Nêu quan điểm sáng tác văn học của Chủ tịch Hồ Chí Minh / "Tây Tiến" của Quang Dũng



    * Câu 1.

    Nêu quan điểm sáng tác văn học của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    * Câu 2.

    Phân tích khổ thơ sau trong bài "Tây Tiến" của Quang Dũng.

    "Tây Tiến người đi không hẹn ước

    Đường lên thăm thẳm một chia phôi

    Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

    Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi".

    (Văn học 12, Tập 1, NXB Giáo dục, 2002, tr 77)

    * Câu 3.

    Phân tích nhân vật Bá Kiến trong tác phẩm "Chí Phèo" của nhà văn Nam Cao.



    HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

    Bài làm (Câu 1)

    a) Sinh thời Hồ Chí Minh không nhận mình là nhà văn, nhà thơ mà chỉ là người bạn của văn nghệ, người yêu văn nghệ. Nhưng do hoàn cảnh thôi thúc, nhiệm vụ cách mạng yêu cầu, với tâm hồn nghệ sĩ Người đã sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị.

    Do am hiểu sâu sắc quy luật và đặc trưng của hoạt động văn nghệ từ phương diện tư tưởng chính trị đến nghệ thuật biểu hiện nên Người có quan điểm sáng tác rõ ràng.

    b) Hồ Chí Minh xem văn nghệ là một hoạt động tinh thần phong phú và phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng. Nhà nghệ sĩ có một sứ mạng rất cao cả, nặng nề, như người đã nói: "Văn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy" (“Thư gửi các họa sĩ” - 1951).

    Trong bài thơ Cảm tưởng đọc "Thiên gia thi" (“Nhật kí trong tù”), Người có viết:

    "Nay ở trong thơ nên có thép

    Nhà thơ cũng phải biết xung phong".

    Chính vì thế người nắm lấy thơ văn như một thứ vũ khí phục vụ sự nghiệp cách mạng.

    c) Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý đến đối tượng thưởng thức. Đó chính là quần chúng cần lao. Bởi vậy trong sáng tác, Người luôn đặt câu hỏi: "Viết cho ai?", "Viết để làm gì?", "Viết cái gì?" và "Viết như thế nào?". Vì thế, sáng tác của Người luôn hướng tới đối tượng với mục đích nhất định.

    d) Hồ Chí Minh luôn quan niệm tác phẩm văn chương phải có tính chân thật. Người yêu cầu văn nghệ sĩ phải "miêu tả cho hay, cho chân thật, cho hùng hồn". Theo Người, tính chân thật là cái gốc của văn chương. Người không bằng lòng với cách viết cầu kì, rườm rà, xa lạ, nặng nề.

    Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt. Theo Người, hình thức tác phẩm phải trong sáng, hấp dẫn; ngôn ngữ phải chọn lọc, hàm súc.

    Bài làm (Câu 2)

    Các ý chính:

    1. Giới thiệu hoàn cảnh xuất xứ của bài thơ.

    Đơn vị Tây Tiến được thành lập vào đầu năm 1947 và hoạt động chủ yếu ở miền Tây đất nước ta (Hòa Bình, Sơn La, vùng biên giới Việt - Lào, thuộc Thanh Hóa - Sầm Nứa). Nhà thơ Quang Dũng vốn là một Đại đội trưởng của đơn vị Tây Tiến. Ông viết bài thơ này từ Phù Lưu Chanh khi nhà thơ rời đơn vị cũ đi nhận nhiệm vụ mới, nhớ về đồng đội và những miền đất đã đi qua cùng với những gian lao vất vả.

    2. Đây là khổ thơ cuối cùng của bài thơ, kết tinh và nâng cao những cảm xúc, tình cảm của bài thơ. Chất lãng mạn của người lính Tây Tiến được thể hiện chủ yếu ở cảm hứng hướng tới cái cao cả, sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc.

    3. Bốn câu thơ khẳng định nét đẹp tinh thần của người lính Tây Tiến mãi mãi tỏa sáng đối với thời đại và đối với lịch sử.

    - Nét đẹp tinh thần của những người Vệ quốc quân thời kỳ đầu kháng chiến: một đi không trở lại, ra đi không hẹn ngày về. Người lính Tây Tiến qua cảm hứng lãng mạn của nhà thơ mang tư thế hiên ngang. (Có thể so sánh với hình ảnh "người ra đi" trong thơ Thâm Tâm, Nguyễn Đình Thi).

    - Nét đẹp của tinh thần Tây Tiến sẽ còn lại mãi với thời gian, với lịch sử của dân tộc, là chứng nhân đẹp đẽ của 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

    4. Phân tích được hiệu quả thẩm mĩ của những từ ngữ, hình ảnh, giọng điệu thơ giàu chất gợi cảm.

    - Cụm từ "người đi không hẹn ước" - tinh thần quyết ra đi không hẹn ngày về.

    - Hình ảnh "đường lên thăm thẳm" gợi lên cả một chặng đường gian lao của đoàn quân Tây Tiến.

    5. Vẻ đẹp bất tử của người lính Tây Tiến được thể hiện ở âm hưởng, giọng điệu của cả bốn câu thơ. Chất giọng thoáng buồn pha lẫn chút bâng khuâng, song chủ đạo vẫn là giọng hào hùng, đầy khí phách.

    Đoạn văn tham khảo

    Khổ cuối bài thơ, âm điệu trở nên tha thiết sâu lắng, bồi hồi. Vẫn là tiếng lòng rung lên theo hoài niệm. Biết bao thương nhớ khôn nguôi:

    "Tây Tiến người đi không hẹn ước

    Đường lên thăm thẳm một chia phôi

    Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

    Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi".

    Mùa xuân ấy, khi "Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông" (Hồ Chí Minh), đoàn binh Tây Tiến xuất quân. Họ đã tiến ra sa trường với lời hẹn ước: "Nhất khứ bất phục hoàn". Đó là lời thề, là quyết tâm của cả một thế hệ "Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh". Các anh đã giã biệt quê hương. Những ai còn ai mất sau những tháng ngày đầy máu lửa? Bạn bè, đồng đội thân yêu, những ai đó "Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi". Nhưng quê hương vẫn đời đời ôm ấp bóng hình anh, người chiến sĩ trong binh đoàn Tây Tiến. Bài thơ đã khép lại mà âm điệu của nó vẫn bồi hồi vang vọng trong tâm hồn ta.

    Có những bài thơ một thời nhưng cũng có một số bài thơ mãi mãi. Thơ hay không có tuổi cũng như mùa xuân không ngày tháng. Đó là "Đèo Cả" của Hữu Loan, là "Nhớ" của Hồng Nguyên, "Đồng chí" của Chính Hữu, "Tây Tiến" của Quang Dũng, và...

    "Tây Tiến" là một trong những bài thơ hay nhất viết về người chiến sĩ cầm súng bảo vệ Tổ quốc, tiêu biểu cho thơ ca Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp. Với bút pháp lãng mạn, với cốt cách tài hoa, phong độ hào hùng của nhà thơ - chiến sĩ, Quang Dũng đã khắc chạm vào thời gian, vào thơ ca và lòng người hình ảnh người chiến sĩ vô danh Thăng Long - Hà Nội, của dân tộc Việt Nam anh hùng. Trước linh hồn người liệt sĩ, ta thắp lên nén tâm hương, nghiêng mình với tình cảm biết ơn và kính phục nhà thơ và những chiến sĩ vinh quang trong đoàn binh Tây Tiến.

    (Rút trong cuốn "99 Bài văn")

    Bài làm (Câu 3)

    1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm:

    a) Nam Cao là tác giả văn học hiện thực xuất sắc giai đoạn 1930 - 1945. Ông chủ yếu đi vào đề tài người trí thức bế tắc và những người nông dân nghèo khổ.

    b) Tác phẩm "Chí Phèo" (1941) là bản cáo trạng về cuộc sống đau thương của người nông dân dưới sự chà đạp của giai cấp thống trị. Trong đó, điển hình cho mọi âm mưu và sự tàn ác là Bá Kiến.

    2. Phân tích nhân vật:

    a) Lai lịch nhân vật.

    Nhà Bá Kiến bốn đời làm tổng lí. Con trai hắn làm lí trưởng. Hắn từng làm lí trưởng rồi làm chánh tổng. Hắn leo đến đỉnh cao của danh vọng: tiên chỉ làng Vũ Đại, chánh hội đồng kì hào, Bắc Kì nhân dân đại biểu, phe cánh của hắn mạnh - luôn đối địch với bọn cường hào trong làng, nơi "quần ngư tranh thực".

    b) Bản chất Bá Kiến.

    - Gian manh nham hiểm.

    Thủ đoạn dùng người: "Trị không lợi thì cụ dùng". Sử dụng họ như công cụ "không có những thằng đầu bò thì lấy ai để trị những thằng đầu bò?". "Mềm nắn rắn buông" với triết lý: "Thứ nhất sợ kẻ anh hùng, thứ hai sợ kẻ cố cùng liều thân". Hắn là kẻ cường hào "khôn róc đời".

    - Ném đá giấu tay.

    Bá Kiến lấn át các phe cánh khác nhờ thu dụng được những kẻ "không sợ chết, không sợ đi ở tù". Lọc lừa, giả dối và xảo quyệt: "Hay ngấm ngầm đẩy người ta xuống sông, nhưng rồi dắt nó lên để nó đền ơn. Hay đập bàn ghế, đòi cho được năm đồng nhưng được rồi thì vất trả năm hào" vì "thương anh túng quá!"...

    Vì thế nhận ra bộ mặt thật của Bá Kiến không phải dễ dàng.

    - Đểu cáng, tàn bạo.

    Bá Kiến đã từng xô đẩy bao người lương thiện vào đường cùng: Năm Thọ, Binh Chức, Chí Phèo. Chính hắn đã đẩy Chí Phèo vào tù vì hắn "chỉ muốn tất cả những thằng trai trẻ đều đi ở tù".

    Chính hắn biến Chí Phèo thành quỷ dữ làng Vũ Đại, và khi cần hắn sẵn sàng thí mạng Chí Phèo (sai đi đòi tiền Đội Tảo).

    Chính hắn sống trên mồ hôi xương máu của người nghèo. Hắn  là con quỷ dữ rất ghê tởm!

    - Dâm ô đồi bại.

    Dù đã có bốn vợ nhưng Bá Kiến không bỏ lỡ ngồi chung xe lên tỉnh với vợ Binh Chức. Tiền của anh lính gửi về chỉ đủ cho Bá Kiến chơi bời hành lạc.

    c) Nghệ thuật xây dựng nhân vật.

    - Bá Kiến là nhân vật điển hình.

    + Bá Kiến có nét chung của giai cấp thống trị tham lam, tàn bạo, không trừ một thủ đoạn nào để bóc lột người nghèo.

    + Bá Kiến có nét riêng của tên ác bá gian manh, nham hiểm, thủ đoạn.

    - Nghệ thuật độc đáo của Nam Cao.

    Không như các nhà văn khác chỉ chú ý miêu tả ngoại hình của giai cấp thống trị (Nghị Quế của Ngô Tất Tố, Nghị Lại của Nguyễn Công Hoan), Nam Cao ít chú ý đến ngoại hình khi xây dựng Bá Kiến. Ông khắc hoạ tâm địa là chính: "Cụ cười nhạt nhưng giòn giã lắm"..., "cụ hay quát để thử dây thần kinh người khác". "Tiếng cười Tào Tháo" ấy là tâm địa của kẻ độc ác xảo quyệt. Qua đó, thấy cái nhìn sắc sảo của Nam Cao.

    3. Kết luận.

    Bá Kiến là nhân vật tiêu biểu cho giai cấp thống trị đương thời. Bá Kiến là sự hội tụ những nét tàn bạo, xảo quyệt, đểu cáng của bọn bóc lột.

    Truyện ngắn "Chí Phèo" thể hiện cuộc đấu tranh một mất một còn không thể khoan nhượng giữa người nông dân và bọn cường hào ác bá trong cái xã hội thực dân nửa phong kiến.
    Bạn phải đăng nhập mới được đăng bài Đăng nhập | Đăng ký

    Quy tắc điểm

    Đóng

    Thông báoTrước /1 Sau

    Phòng tối|Lưu trữ|Diễn đàn Yên Bái 2024 Community Guidelines |

    GMT+7, 16-10-2026 09:59 AM , Processed in 0.032917 second(s), 24 queries .

    Powered by Discuz! X3.4

    © 2001-2013 Comsenz Inc.

    Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách