Diễn đàn Trái Tim Yên Bái 2024

 Quên mật khẩu
 Đăng ký
Xem: 1544|Trả lời: 8
Thu gọn cột thông tin

Luật Làm Thơ

[Lấy địa chỉ]
  • Tâm trạng hàng ngày
    Trầm cảm
    7-12-2011 02:37 PM
  • Đã viết: 8 ngày

    [LV.3]Spam 3

    Đăng lúc 4-9-2010 11:10 AM | Xem tất |Chế độ đọc

    Mời bạn đăng ký để giao lưu kết bạn nhé <3

    Bạn phải đăng nhập để xem được nội dung, nếu bạn chưa có tài khoản? hãy Đăng ký

    x
    Em là em ứ thích thơ đâu, nhưng vì sự nghiệp spam cao cả nên cũng mày mò tìm bài này cop về diễn đàn, hy vọng đóng góp chút ít cho sự nghiệp spam.....vì dạo này em thấy thơ văn các thành viên diễn đàn mình lên cao quá, nên cũng muốn góp cho các bác cái gì đó để những bài thơ được " iso " hơn
    Luật Làm Thơ
    Thơ Lục Bát

    Lục bát là thể thơ thông dụng nhất, vì cách gieo vần tương đối đơn giản.

    Lục = sáu chữ --- chữ 2 bằng, 4 trắc, 6 bằng
    Bát = tám chữ --- chữ 2 bằng, 4 trắc, 6 bằng, 8 bằng

    x B x T x B (v1)
    x B x T x B (v1) x B (v2)
    x B x T x B (v2)
    x B x T x B (v2) x B (v3)

    Thơ Thất Ngôn (hay còn gọi Tứ Tuyệt)

    Thất ngôn đơn giản là thể thơ gồm bốn câu mỗi đoạn, và mỗi câu được mang bảy chữ, được sắp theo luật như sau:

    Bốn câu được chia thành hai cặp:
    Một cặp mang thanh x T x B x T x (trắc, bằng, trắc)
    Một cặp mang thanh x B x T x B x (bằng, trắc, bằng)

    Hai cặp này có thể đặt xen kẽ, hoặc đối xứng tùy ý, miễn sao nghe êm tai là được. Trong từng câu, những chữ mang thanh trắc bằng bắt buộc phải là các chữ 2, 4, và 6 của mỗi câu. Như vậy chữ thứ 2 và thứ 6 luôn mang cùng một thanh còn chữ thứ 4 thì ngược lại theo đúng luật thơ.

    Thơ Bát Ngôn (thơ 8 chữ)

    Bát Ngôn là thể thơ tám chữ, tức là mỗi dòng trong đoạn thơ sẽ có tám chữ. Làm thơ Bát ngôn dễ dàng hơn những thể thơ khác rất nhiều vì không bị luật thơ gò bó như những thể loại khác:

    Câu đầu tiên của bài thơ thì có thể tự do mà làm, vì không phải theo khuôn khổ nào hết.

    Câu hai và ba thì chữ cuối của câu hai và câu ba phải theo cùng vần là trắc trắc, hoặc bằng bằng, cứ hai cặp trắc lại đến hai cặp bằng cho đến hết bài thơ.

    Câu cuối cùng cũng tương tự câu đầu. không cần phải vần với câu nào hết, nhưng nếu chữ cuối của câu cuối có thể vần với chữ cuối câu đầu thì sẽ hay hơn.

    Vì Bát ngôn không có quá gò bó, từ ngữ bạn dùng sẽ làm bài thơ trở nên hay hơn, chỉ cần uốn nắn, uyển chuyển dùng từ sẽ tạo ra một bài thơ thật hấp dẫn.

    Thơ Tứ Ngôn (thơ 4 chữ)

    Thơ tứ ngôn là loại thơ có thể gọi là đơn giản nhất bởi vì luật bằng trắc chỉ được áp dụng cho chữ thứ 2 và chữ thứ 4 trong câu mà thôi.

    Nếu chữ thứ 2 là bằng thì chữ thứ 4 là trắc và ngược lại nếu chữ thứ 2 là trắc thì chữ thư 4 là bằng.

    Cách gieo vần của thể thơ này cũng được chia làm hai loại thường được gọi là cách gieo vần tiếp, và cách gieo vần tréo. Tuy nhiên vẫn còn một cách gieo vần nữa, cách này ít ai dùng đến, là cách gieo vần ba tiếng.

    Cách gieo vần tiếp
    x B x T (v1)
    x B x T (v1)
    x T x B (v2)
    x T x B (v2)

    Cách gieo vần tréo
    x B x T (v1)
    x T x B (v2)
    x B x T (v1)
    x T x B (v2)

    Cách gieo vần ba tiếng
    x B x T (v1)
    x T x B (v1)
    x B x T (tự do)
    x T x B (v2)

    Thơ Ngũ Ngôn (thơ 5 chữ)

    Cũng giống như thơ 4 chữ, nếu chữ thứ 2 trong câu là bằng thì chữ thứ 4 là trắc và ngược lại. Cách gieo vần của thể thơ này cũng được chia làm hai loại thường được gọi là cách gieo vần ôm, và cách gieo vần tréo.

    Cách gieo vần ôm
    x B x T x (v1)
    x T x B x (v2)
    x B x T x (v2)
    x T x B x (v1)

    Cách gieo vần tréo
    x B x T x (v1)
    x T x B x (v2)
    x B x T x (v1)
    x T x B x (v2)


    Thơ Đường

    Thơ Đường được bắt đầu từ bên Trung Hoa, thời nhà Đường bên Trung Hoa rất xem trọng các văn hào, và cũng vì lẽ đó nên các quan trong triều bắt buộc phải biết làm thơ, cho nên trong thơ nhà Đường có rất nhiều thi sĩ nổi tiếng. Đặc biệt hơn nữa, các thi hào thời nhà Đường đã phát triển một lối làm thơ riêng biệt mà ngày nay chúng ta được biết là thơ Đường.

    Thơ Đường còn được gọi là "Đường Thi Thất Ngôn Bát Cú" tạm dịch là Đường thơ bảy chữ tám câu. Tám câu này được phân ra thành bốn cặp (cặp là hai câu giống nhau theo luật bằng trắc).

    cặp 1: gồm câu một và câu tám
    cặp 2: gồm câu hai và câu ba
    cặp 3: gồm câu bốn và câu năm
    cặp 4: gồm câu sáu và câu bảy

    Cũng giống như Thất Ngôn Tứ Tuyệt, luật bằng trắc trong Đường Thi áp dụng cho những chữ 2, 4, và 6 trong mỗi câu; đặc biệt, những chữ 7 (chữ cuối của mỗi câu) cũng phải theo luật bằng-trắc (b=bằng, t=trắc).

    Nếu mở đầu bài thơ bằng T B T (luật trắc) thì bài thơ sẽ theo luật như sau:

    câu 1: x T x B x T b (vần)
    câu 2: x B x T x B b (vần)
    câu 3: x B x T x B t
    câu 4: x T x B x T b (vần)
    câu 5: x T x B x T t
    câu 6: x B x T x B b (vần)
    câu 7: x B x T x B t
    câu 8: x T x B x T b (vần)

    Nếu mở đầu bài thơ bằng B T B (luật bằng) thì bài thơ sẽ theo luật như sau:

    câu 1: x B x T x B b (vần)
    câu 2: x T x B x T b (vần)
    câu 3: x T x B x T t
    câu 4: x B x T x B b (vần)
    câu 5: x B x T x B t
    câu 6: x T x B x T b (vần)
    câu 7: x T x B x T t
    câu 8: x B x T x B b (vần)

    Điểm khó nhất trong Đường Thi là câu số ba và câu số bốn, bởi vì hai câu này được gọi là hai câu THỰC và hai câu năm và câu sáu là hai câu LUẬN.... hai cặp câu này luôn luôn đối nhau, danh từ (noun) đối danh từ, động từ (verb) đối động từ, tính từ (adjective) đối tính từ, quan trọng hơn cả là hai cặp câu này phải Ý đối Ý.

    Điểm cao nhất của Đường Thi là có thể HỌA THƠ với người khác, nghĩa là sẽ dùng lại tất cả những mang VẦN của bài thơ muốn họa tức là bài thơ của người đầu tiên (thường được gọi là bài Xướng Thi) để diễn tả theo ý thơ của mình.
    (ST)

    Note:
    Chủ ý để viết nên 1 bài thơ là để diễn tả cảm xúc, dùng từ ngữ mà diễn đạt tâm ý của người làm thơ, nhiều khi quá gò bó trong luật thơ có thể sẽ mất đi cái hứng làm thơ, vì vậy, nếu bài thơ khi đọc lên nghe êm dịu, xuôi tai, diễn tả được ý tứ và cảm xúc của tác giả thì không cần theo đúng luật thơ cũng có thể là 1 bài thơ hay phải không các bạn.

    *
    thanh Bằng: là những chữ có dấu huyền và không dấu
    thanh Trắc: là những chữ có dấu sắc, dấu nặng, dấu ngã.
                                                                                                                                                                            
    Nguồn :vanhoctre.com

    Cảm ơn

    Số người tham gia 3Thanks +3 Thu lại Lý do
    songngu_163 + 1
    Đoàn Thiếu Da + 1
    k3s1t1nh + 1

    Xem tất cả

  • Tâm trạng hàng ngày
    Trầm cảm
    7-12-2011 02:37 PM
  • Đã viết: 8 ngày

    [LV.3]Spam 3

     Tác giả| Đăng lúc 4-9-2010 11:15 AM | Xem tất
    1 CÁC THỂ THỨC HỌA THƠ ĐƯỜNG LUẬT
    Có 2 thể thức họa thơ Đường luật là: Họa Hạn Vận và Họa Phóng Vận.
    1.
    HỌA HẠN VẬN:
    Họa hạn vận là phải theo sự hạn định trước. Người ta ra đề và cho vần nào thì mình phải dùng vần ấy.



    Thể Họa Hạn Vận nầy khác với thể Họa Phóng Vận, vì họa hạn vận không có bài xướng để dựa theo mà họa, hơn thế nữa, ta phải:
    - Diễn tả ý thơ theo đầu đề đã ra sẵn. ...

    - Dùng đúng 5 vần hạn định (trong 8 câu) và phải hạ vần đúng theo thứ tự đã hạn định.

    Thí dụ: Cuộc thi thơ do học giả Phan Kế Bính tổ chức như sau:
    a.
    Đầu đề (nội dung) là:

    Trống treo ai dám đánh thùng
    Bậu không ai dám dở mùng chun vô

    b.
    Năm vần hạn định theo thứ tự là: xô - cô - vô - ô - rô.
    Bài thơ sát với đầu đề, hạ đúng 5 vần hạn định, được giải nhất mà tác giả lại là một thiền sư chân tu !!!
    ... như sau đây:

    Nào phải là ai dám giục xô
    Thuận tình trước hết tự nơi cô
    Có cho mới dám trao dùi đánh
    Không hẹn nào ai đẩy cửa vô
    Mảng sướng kể gì thân lễ nghĩa
    Ham vui quên hết chuyện dâm ô
    Thói hư thuần thước xưa còn lạc
    Đừng học làm chi gióng nhảy rô


    Còn có một lối hoạ hạn vận rất khó. Hoàng Thứ Lang kể lại một câu chuyện như sau:
    Mùa Hè năm 1926, trong dịp thi sĩ Đão Sĩ Nhã đến thăm gia đình họ Phan ở Hưng Yên. Ông khách Đào Sĩ Nhã thách lão thi sĩ Phan Mạnh Danh làm một bài thơ Nôm Đường luật với các điều kiện sau:
    - Đầu đề: Xuân Khuê
    - Hạn 5 vần: chờ - hờ - thưa - tơ - thơ
    - Phải dùng 19 chữ: một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín, mười, trăm, ngàn, vạn, đôi, cặp, nửa, trượng, thước, tấc.
    Sau đây là bài thơ Nôm hoạ hạn vận của lão thi sĩ Phan Mạnh Danh:

    Xuân Khuê

    Một mong hai đợi bốn ba chờ
    Mười hẹn đêm trăng tám hững hờ
    Nửa gối năm canh gà gáy giục
    Tấc mây sáu cánh nhạn tin thưa
    Trăm lần cặp mắt đôi hàng lệ
    Chín khúc bên lòng vạn mối tơ
    Ngàn trượng thành sầu đo thước khó
    Biếng đem bảy vẻ dệt nên thơ

    Phan Mạnh Danh


    2.
    HỌA PHÓNG VẬN
    Họa Phóng Vận là phỏng theo vần của bài xướng để họa lại mà các vần trong bài họa phải theo y như các vần trong bài xướng, còn ý nghĩa thì hoặc phụ theo cho rộng thêm, hoặc trái hẳn lại (phản đề).

    Họa phóng vận còn chia ra 4 hình thức là: Họa Nguyên Vận, Họa Đảo Vận, Họa Hoán Vận và Hoạ Tá Vận.
    a. Họa Nguyên Vận: là họa đúng 5 vần của bài xướng và hạ vần cũng đúng y theo thứ tự như cách hạ vần của bài xướng. Trong cách họa nguyên vận thường thì có bao hàm họa ý (hoặc đối ý) và đối luật với bài xướng. Nếu không đối luật được thì cũng có thể họa luật.
    b. Họa Đảo Vận: là họa ngược thứ tự của 5 vần từ dưới lên trên, thay vì họa nguyên vận là họa từ trên xuống còn họa đảo vận là họa từ dưới lên.
    c. Họa Hoán Vận: là thay đổi thứ tự vị trí các vần của bài xướng tùy theo ý người họa, sắp xếp lại sao cho vần điệu nghe êm tai hơn cách sắp xếp của bài xướng.
    d. Họa Tá Vận: Tá vận là mượn vần. Họa tá vận là bài họa chỉ mượn 5 vần của bài xướng để làm một bài khác mà nội dung hoàn toàn không liên quan gì đến bài xướng cả. Cách họa này ngày nay hầu hết được người ta làm rất nhiều vì dễ làm.


    CHÚ Ý QUAN TRỌNG: Trong thể thức Họa Vận, không được dùng trùng từ thứ 6 trong các câu có vần của bài xướng. Tức là không được dùng lại từ đứng trước của 5 vần bài xướng. Nói dễ hiểu là không được dùng lại chữ thứ 6 ở các câu 1-2-4-6-8 của bài xướng. Càng tránh dùng trùng từ trong toàn bài của bài xướng càng tốt, ngoại trừ những từ đặc biệt không thể tránh được.
    Hoạ Thơ bao gồm 2 phần chính quan trọng sau đây:
    Đã có một bài thơ sẵn trước gọi là Bài Xướng. Bài xướng có thể chọn 1 bài đã có sẵn từ xưa, từ trước, hoặc 1 bài do 1 người khác làm trước “thách đố” cho người khác đáp lại. Người đáp lại thì bài reply đó gọi là Bài Họa. Bài họa phải có ít nhất 3 yếu tố quan trọng sau đây:
    1. Họa vần: 5 vần tức là 5 tiếng (chữ) cuối của các câu 1-2-4-6-8 mà người xướng đã ra như thế nào thì người họa phải theo đúng y chang 5 vần đó, không được vì bí hay kẹt mà sửa đổi. Chỉ cần sai 1 trong vần kể trên thì bài họa coi như bị hỏng, và như vậy gọi là bị Xuất Vận nghĩa là bị ra khỏi vần đã hạn định cho mình, dĩ nhiên bài họa đó bị Fail.2. Bài xướng nói lên ý (main idea) gì thì bài họa cũng phải nói lên ý đó hoặc tán rộng nghĩa ra thêm.3. Bài xướng gieo luật gì thì bài họa phải đối lại luật đó (trong xướng họa có hàm nghĩa đối đáp). Thí dụ bài xướng luật trắc thì bài họa phải luật bằng và ngược lại.4. Ngoài ra bài họa có thể đối ý lại bài xướng, thí dụ bài xướng khen 1 vấn đề gì thì bài họa có thể chê vấn đề đó (gọi là phản đề, nhưng không bắt buộc).Tóm lại 3 yếu tố 1-2-3 là cần thiết cho 1 bài họa xuất sắc.Sau đây là một thí dụ về xướng họa điển hình để làm mẫu. Hai bài này nổi tiếng trong văn học Việt Nam.
    Bài Xướng:

    TÔN PHU NHÂN QUI THỤC
    (của Tôn Thọ Tường)

    Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng
    Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông
    Lìa Ngô bịn rịn chòm mây bạc
    Về Hán trau tria mảnh má hồng
    Son phấn thà cam dày gió bụi
    Đá vàng chi để thẹn non sông
    Ai về nhắn với Châu Công Cẩn
    Thà mất lòng anh được bụng chồng


    Bài Họa:

    TÔN PHU NHÂN QUI THỤC
    (của Phan Văn Trị)

    Cài trâm sửa áo vẹn câu tòng
    Mặt ngả trời chiều biệt cõi Đông
    Ngút tỏa trời Ngô ùn sắc trắng
    Duyên về đất Thục đượm màu hồng
    Hai vai tơ tóc bền trời đất
    Một gánh cương thường nặng núi sông
    Anh hỡi Tôn Quyền anh có biết
    Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng

    Những bài thơ minh họa cho các thể thức Họa Thơ.
    1.
    HOẠ HẠN VẬN:
    Thí dụ:

    - Hạn đề:
    “Trống treo ai dám đánh thùng
    Bậu không ai dám dở mùng chun vô”

    - Hạn vận:
    Xô - Cô - Vô - Ô - Rô

    Bài họa:

    Nào phải là ai dám giục xô
    Thuận tình trước hết tự nơi cô
    Có cho mới dám trao dùi đánh
    Không hẹn nào ai đẩy cửa vô
    Mảng sướng kể gì thân lễ nghĩa
    Ham vui quên hết chuyện dâm ô
    Thói hư thuần thước xưa còn lạc
    Đừng học làm chi giống nhảy rô


    2. HỌA PHÓNG VẬN:
    Thí dụ 1:

    a.
    Họa nguyên vận:

    Bài xướng:

    TƯƠNG TƯ

    Tương giang hai đứa ở hai nơi
    Uống cạn dòng sông nhớ trọn đời
    Chỉ thắm xe lơi người mộng hỡi
    Tơ hồng buộc lỏng bạn lòng ơi
    Vần thơ nức nở mi nhòa lệ
    Nét chữ run run ý cạn lời
    Định số an bài mang khổ hận
    Đêm trường thổn thức máu tim rơi

    Hoàng Thứ Lang
    11/8/05


    Bài họa:

    TƯƠNG TƯ

    Mỏi gót phiêu bồng khắp mọi nơi
    Về đâu trên vạn nẻo đường đời
    Mưa buồn đổ mãi mưa buồn hỡi
    Tuyết trắng rơi hoài tuyết trắng ơi
    Muốn nhắn đôi câu mà nghẹn ý
    Mong trao mấy tiếng lại ngăn lời
    Dòng sông ly biệt nào chia lối
    Ngắm dải Ngân Hà đếm lệ rơi

    Hoàng Thứ Lang
    11/8/05

    b. Họa đảo vận:

    Bài xướng:

    TƯƠNG TƯ

    Tương giang hai đứa ở hai nơi
    Uống cạn dòng sông nhớ trọn đời
    Chỉ thắm xe lơi người mộng hỡi
    Tơ hồng buộc lỏng bạn lòng ơi
    Vần thơ nức nở mi nhòa lệ
    Nét chữ run run ý cạn lời
    Định số an bài mang khổ hận
    Đêm trường thổn thức máu tim rơi

    Hoàng Thứ Lang
    11/8/05


    Bài họa:

    TƯƠNG TƯ

    Lất phất bên thềm tuyết trắng rơi
    Niềm riêng ấp úng chẳng nên lời
    Hai hàng lệ tủi than trời hỡi
    Một áng thơ sầu khóc bạn ơi
    Rẽ yến chia oanh hờn số kiếp
    Lìa loan rã phụng lỡ duyên đời
    Sông Tương uống cạn dòng thương nhớ
    Giang vĩ giang đầu đứa mỗi nơi

    Hoàng Thứ Lang
    11/8/05

    c. Họa Hoán Vận:

    Bài xướng:

    TƯƠNG TƯ

    Tương giang hai đứa ở hai nơi
    Uống cạn dòng sông nhớ trọn đời
    Chỉ thắm xe lơi người mộng hỡi
    Tơ hồng buộc lỏng bạn lòng ơi
    Vần thơ nức nở mi nhòa lệ
    Nét chữ run run ý cạn lời
    Định số an bài mang khổ hận
    Đêm trường thổn thức máu tim rơi

    Hoàng Thứ Lang
    11/8/05


    Bài họa:

    TƯƠNG TƯ

    Gởi gió nhờ mây nhắn mấy lời
    Trao người yêu dấu của tôi ơi
    Đường mơ vạn nẻo đành riêng lối
    Bến mộng đôi bờ phải khác nơi
    Bóng chiếc phòng đơn sầu lệ đổ
    Đèn khuya gác vắng tủi châu rơi
    Ai xui hai đứa mình dang dở
    Chẳng trọn cùng nhau suốt cuộc đời

    Hoàng Thứ Lang
    11/8/05

    d. Họa Tá Vận (mượn vần):

    Bài xướng:

    TRUNG THU

    Trăng thu toả sáng nhớ xa xăm
    Tháng tám chờ trông đến bữa rằm
    Mẹ dán lồng đèn chơi suốt sáng
    Cha làm trống ếch đánh quanh năm
    Xa rồi cảnh cũ lòng se lạnh
    Tiếc mãi ngày xưa lệ ướt dầm
    Chiếc lá chao mình trong gió sớm
    Nghe chừng vọng lại thoáng dư âm

    Hoàng Thứ Lang
    Oct 05, 2006


    Bài họa:

    XIN XĂM

    Mẹ dẫn lên chùa để thỉnh xăm
    Hôm nay trăng sáng đúng đêm rằm
    Cầu xin phúc lộc vào nguyên tháng
    Khấn nguyện bình an đến trọn năm
    Giữa Hạ oi nồng đừng nắng gắt
    Trung Thu mát mẻ chớ mưa dầm
    Đưa tay vói rút ồ hên quá
    Thượng thượng ngon lành chẳng bị âm

    Bạch Mai
    Oct 06, 2006

    Hoạ thơ Đường luật

    Họa vần là sáng tác một bài thơ thường gọi là bài họa dựa trên hệ thống vần của một bài thơ có trước thường gọi là bài xướng.

    Thơ Đường luật có nhiều thể như thất ngôn tứ tuyệt, thất ngôn bát cú, ngũ ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn bát cú.
    Nếu thể thơ thất ngôn bát cú thì toàn bài có năm vần là chữ cuối cùng của các câu 1, 2, 4, 6, 8.
    Những chữ vần thường là thanh bằng (có một số bài làm theo vần trắc, thì các chữ ở vị trí này là thanh trắc).

    Sau khi có bài xướng, người làm thơ họa sáng tác một bài khác, dùng lại đúng năm chữ vần của bài thơ xướng, với điều kiện chỉ dùng chữ cuối, không được dùng chữ kế cuối.

    Nếu dùng lại chữ kế cuối là phạm nguyên tắc “khắc lục”, là lỗi cấm kỵ trong họa vần thơ Đường luật.

    Bài họa phải diễn đạt lại ý chính (nội dung) của bài xướng, không được lạc đề.

    Thường là bài họa phải đối luật với bài xướng, nếu bài xướng luật bằng thì bài họa phải luật trắc và ngược lại. Kẹt lắm mới làm bài họa đồng luật với bài xướng.
    Thí dụ:

    Bài xướng:

    Vườn rau Cẩm Tú

    Thầy cho xới lại mảnh vườn hoang
    Cẩm Tú đem phân ủ mấy hàng
    Củ cải gieo gần dây mướp đắng
    Su hào tỉa cạnh gốc khoai lang
    Thì là diếp cá lên muôn lối
    Húng đổi cần tây mọc khắp đàng
    Tứ phía rau xanh nhìn mát mắt
    Tha hồ cải thiện bữa ăn...
    sang

    Cẩm Tú


    Bài hoạ::

    Vườn rau Cẩm Tú

    Cẩm Tú gieo trồng mảnh đất hoang
    Rau xanh thẳng tắp rất ngay hàng
    Ngò om óng mượt bên giàn mướp
    Húng quế thơm lừng kế luống lang
    Bí rợ tần ô lên bít lối
    Dưa leo ớt hiểm mọc đầy đàng
    Chiều chiều đứng ngắm lòng thanh thản
    Cuộc sống quê nghèo ngẫm lại...
    sang

    Hoàng Thứ Lang

    Không được dùng lại chữ thứ 6 (chữ kế cuối) trong các câu cước vận (câu 1-2-4-6-8) của bài xướng và tất cả những bài đã hoạ trước.
    5 chữ vần của bài hoạ không được khác nghĩa với 5 chữ vần của bài xướng.Coi như bài hoạ là bản copy những nét căn bản về ý và vần của bài xướng, vì vậy bài hoạ phải cùng một tựa đề với bài xướng.Hoạ thơ Đường luật không đến nổi quá khó nhưng không phải dễ dàng như nhiều người đã lầm tưởng !Hoạ sai một vần gọi là xuất vận: không được.Hoạ sai nghĩa một vần gọi là xuất ý: không được.
    —-

    Bài đọc thêm

    Xướng hoạ thơ Đường luật là có hàm ý đối hoạ ở trong đó.
    Người ta xướng ra mình phải đối đáp lại, vì vậy nếu chỉ một bài xướng và một bài hoạ thì bài hoạ bắt buộc phải đối luật với bài xướng. Thí dụ bài Tôn Phu Nhân Qui Thục xướng của Tôn Thọ Tường, hoạ của Phan Văn Trị.Trường hợp bất khả kháng không thể đối luật được thì có thể châm chế hoạ đồng luật, nhưng bài hoạ đồng luật sẽ bị giảm giá trị vì không đáp ứng đúng thể thức xướng hoạ đúng cách.Bắt đầu những bài hoạ sau đó (nếu có) thì có thể dùng luật gì cũng được.
    Hoạ thơ là “vẽ lại” hình ảnh của bài xướng cho nên phải trung thực với bài xướng về ý cũng như vần.
    Hoạ sai ý bài xướng là không đạt.Hoạ sai bất cứ chữ vần nào của bài xướng gọi là xuất vận: không đạt. Xuất vận là đi ra khỏi sự hạn định về vần của bài xướng.Hoạ sai nghĩa bất cứ chữ vần nào của bài xướng gọi là xuất ý: không đạt. Xuất ý là đi ra khỏi ý nghĩa chữ vần của bài xướng.
    Hoạ thơ Đường luật đúng cách rất khó.

    Khi bạn bè (thi hữu) chung vui xướng hoạ với nhau, có thể dùng thể thức Hoạ Tá Vận (tức là mượn vần) để hoạ những vần tử vận và tử ý. Cách nầy không đạt nhưng cốt là để cùng nhau vui vẻ mà thôi. Nhưng cũng không nên đi xa thi đề (nội dung của bài xướng). Thí dụ bài Cảm Vịnh Cây Mai xướng của Tôn Thọ Tường, hoạ của Đông Hồ.
    Lấy thí dụ tử vận xót xa không thể nào hoạ nguyên vận theo chính hoạ được. Chúng ta có thể hoạ tá vận (mượn vần) theo bàng hoạ là xa xa, từ xa, đàng xa v.v... chẳng hạn. Dĩ nhiên là sai nghĩa của chữ xót xa rồi (bởi vậy mới bị xuất ý: không đạt), nhưng cốt để cùng nhau vui vẻ mà thôi.
    Chúng ta học thơ Đường luật chính thể, cho nên phải học kỹ về chính luật, chính vận, chính đối, chính hoạ.

    Thông vận, bàng đối và bàng hoạ...
    không xuất sắc.
    Làm thơ, nếu dùng thông vận thì nên dùng cận vận mà không nên dùng viễn vận. Viễn vận và cưỡng vận không hay, hạn chế dùng.
    Luật bất luận trong thơ Đường luật chính thể

    Người xưa đã nghiên cứu, cân nhắc rất kỹ càng chu đáo khi đặt ra luật thơ chính luật cho thơ Đường luật. Theo chính luật thì bài thơ sẽ có âm điệu du dương trầm bổng đọc hoặc ngâm nga rất êm tai truyền cảm. Thơ không phải chỉ để đọc mà còn để ngâm vịnh nữa, cho nên âm điệu rất quan trọng vì nó tạo ra nhạc tính cho bài thơ. Do đó người ta nói trong thơ có nhạc trong nhạc có thơ là bởi lẽ đó. Bài thơ mà không tuân theo thanh luật tức là luật về âm thanh hay nói khác đi nếu bài thơ mà không tuân theo luật thơ khi đọc lên thì nghe rất chỏi tai, ngâm vịnh thì bị chỏi miệng trẹo lưỡi mà trong thơ gọi là khổ độc.Tuy nhiên trong một vài trường hợp đặc biệt, có những chữ không thể sửa đổi để khép vào khuôn khổ của luật thơ (chính luật) được. Đó là những chữ thuộc về thành ngữ, điển tích, chuyên ngữ, thuật ngữ, danh từ riêng ... Vì vậy mà người ta đặt thêm luật bất luận để áp dụng cho những trường hợp đặc biệt này. Nhưng luật bất luận cũng có sự qui định chặt chẽ phải tuân theo một cách nghiêm ngặt không thua gì chính luật.Một vài thí dụ về thành ngữ, điển tích, chuyên ngữ, thuật ngữ, danh từ riêng không thể sửa theo chính luật được, như sau:

    - Thành ngữ: tang điền thương hải, học tài thi mạng, tháo củi sổ lồng ...

    - Điển tích: kết cỏ ngậm vành, nghiêng nước nghiêng thành, bình rơi trâm gãy ...

    - Chuyên ngữ, thuật ngữ: tam bộ cửu hậu, tứ chẩn bát cương, cữu hư hoãn bổ ...

    - Danh từ riêng: Mỵ Châu, Thúy Kiều, Kim Trọng, Đạm Tiên, Bá Nha, Tử Kỳ ...


    So sánh đối chiếu với chính luật:

    - Thành ngữ: non thề biển hẹn, quốc phá gia vong, nhà tan cửa nát ...

    - Điển tích: cử án tề mi, thiên kiều bá mỵ, chim sa cá lặn, hoa tường liễu ngõ ...

    - Chuyên ngữ, thuật ngữ: tứ chứng nan y, đau chân há miệng, bảng hổ danh đề ...

    - Danh từ riêng: Ngưu Lang, Chức Nữ, Trương Chi, Trọng Thủy, Lưu Thần, Nguyễn Triệu ...


    Vì những sự kiện đặc biệt như đã dẫn chứng trên nên luật bất luận được ra đời để áp dụng cho những từ ngữ đặc biệt không thể sửa đổi này.

    Sau đây là bảng luật bất luận cho thơ Đường luật chính thể:

    1.
    LUẬT BẰNG VẦN BẰNG:

    b - B - t - T - T - B - B (vần)
    t - T - b - B - T - T - B (vần)
    t - T - b - B - B - T - T (đối câu 4)
    b - B - t - T - T - B - B (vần) (đối câu 3)
    b - B - t - T - B - B - T (đối câu 6)
    t - T - b - B - T - T- B (vần) (đối câu 5)
    t - T - b - B - B - T - T
    b - B - t - T - T - B - B (vần)


    2.
    LUẬT TRẮC VẦN BẰNG:

    t - T - b - B - T - T - B (vần)
    b - B - t - T - T - B - B (vần)
    b - B - t - T - B - B - T (đối câu 4)
    t - T - b - B - T - T - B (vần) (đối câu 3)
    t - T - b - B - B - T - T (đối câu 6)
    b - B - t - T - T - B - B (vần) (đối câu 5)
    b - B - t - T - B - B - T
    t - T - b - B - T - T - B (vần)


    Ghi chú quan trọng:

    - Những chữ viết hoa đứng ở vị trí 2-4-5-6-7 của mỗi câu bắt buộc phải giữ theo đúng chính luật.
    - Những chữ viết thường đứng ở vị trí thứ 1-3 không bắt buộc phải giữ đúng theo chính luật. Tuy nhiên chỗ mà theo chính luật là trắc ta làm ra bằng thì không sao nhưng chỗ mà theo chính luật là bằng thì không nên làm ra trắc. Riêng chữ thứ 1 có thể linh hoạt hơn, gặp chỗ là bằng cũng có thể làm ra trắc nếu không thể tìm ra chữ khác hay hơn để thay thế. Trường hợp bất khả kháng, đối đế lắm cũng có thể áp dụng cho chữ thứ 3 giống như chữ thứ 1, nghĩa là đáng lẽ bằng mà vì kẹt phải làm ra trắc. Tuy nhiên không nên lạm dụng luật bất luận mà làm bài thơ trắc trở không êm tai.Bằng là suông sẻ, trắc là trắc trở, vì vậy chỗ đáng trắc mà làm ra bằng thì suông sẻ, nhưng chỗ đáng bằng mà làm ra trắc thì trắc trở, không nên.
    Bài thơ thí dụ làm mẫu để minh hoạ cho luật bất luận:

    1.
    Luật trắc:

    Tôn Phu Nhân Qui Thục
    (Bài xướng)

    Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng
    Ngàn thu rạng tiết gái Giang đông
    Lìa Ngô bịn rịn chòm mây bạc
    Về Hán trau tria mảnh má hồng
    Son phấn thà cam dày gió bụi
    Má hồng chi để thẹn non sông
    Ai về nhắn với Chu Công Cẩn
    Thà mất lòng anh đặng bụng chồng

    Tôn Thọ Tường


    2.
    Luật bằng:

    Tôn Phu Nhân Qui Thục
    (Bài hoạ)

    Cài trâm sửa áo vẹn câu tòng
    Mặt ngả trời chiều biệt cõi đông
    Khói toả đồi Ngô ùn sắc trắng
    Duyên về đất Thục đượm màu hồng
    Hai vai tơ tóc bền trời đất
    Một gánh cang thường nặng núi sông
    Anh hỡi Tôn Quyền anh có biết
    Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng

    Phan Văn Trị

    Ghi chú: đây là 2 bài thơ xướng hoạ nổi tiếng trong văn học sử Việt Nam, chúng ta nhận thấy tác giả áp dụng luật bất luận đúng y như trong phần giải thích ở trên, và dùng cũng rất hạn chế.
    (Sưu tầm)

    Cảm ơn

    Số người tham gia 2Thanks +2 Thu lại Lý do
    hìnhnhân0tim + 1
    k3s1t1nh + 1

    Xem tất cả

  • Tâm trạng hàng ngày
    Trầm cảm
    7-12-2011 02:37 PM
  • Đã viết: 8 ngày

    [LV.3]Spam 3

     Tác giả| Đăng lúc 4-9-2010 11:16 AM | Xem tất
    Luật Làm Thơ
    VDN Sưu Tầm (nguồn vnthuquan.net)

    Phần I


    Những Dạng Thơ Ðặc Biệt


    1-Họa Vận

    Một người làm một bài xướng lên,một người nữa làm bài khác họa lại mà các vần trong bài họa phải theo y như các vần trong bài xướng,còn ý nghĩa hoặc phụ theo cho rộng,hoặc trái hẳn lại ( phản đề ) :

    Hỏi Ả Bán Chiếu

    Xướng :
    Ả ở đâu nay bán chiếu gon ?
    Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn ?
    Xuân thu nay độ bao nhiêu tuổi ?
    Ðã có chồng chưa được mấy con ?
    Nguyễn Trãi

    Họa :

    Tôi ở Tây hồ bán chiế u gon .
    Nỗi chi ông hỏi hết hay còn ?
    Xuân thu tuổi mới trăng còn lẻ ,
    Chồng còn chưa có,có chi con !

    Nguyễn thị Lộ

    2-Thủ nhất thanh ( nhất đồng )

    Từ đứng đầu 8 câu đều giống nhau

    Tám Mừng
    Mừng đón xuân về,muôn sắc hoa,
    Mừng xuân,xuân mới ,mới thêm ra.
    Mừng nghe nhựa sống,như còn trẻ,
    Mừng thấy đời tươi,chửa muốn già.
    Mừng khỏe đôi chân,đi đứng vững,
    Mừng tinh cặp mắt ngắm nhìn xa.
    Mừng nhau tuổi Thọ tăng tăng mãi,
    Mừng được trường xuân hưởng thái hòa.

    1986 Lạc Nam

    3-Song điệp

    Tất cả 8 câu đều có 2 điệp từ :

    Chuyện Ðời
    Vất vất vơ vơ ,cũng nực cười,
    Căm căm cúi cúi có hơn ai .
    Nay còn chị chị anh anh đó ,
    Mai đã ông ông mụ mụ rồi.
    Có có không không,lo hết kiếp
    Khôn khôn dại dại,chết xong đời.
    Chi bằng láo láo lơ lơ vậy,
    Ngủ ngủ ăn ăn nói chuyện chơi.

    Nguyễn Công Trứ ?
    Nguyễn Thượng Hiền ?

    4-Song điệp độc vận

    Tất cả 8 câu đều có 1 từ và chỉ có 1 vần

    Xuân Và Thơ

    Xuân tự ngàn xưa, bạn với Thơ
    Tình Xuân là cả vạn lời Thơ
    Ðẹp duyên hoa bút, Xuân ngời sắc
    Rộn khúc Xuân thiều, nhạc ánh Thơ.
    Xuân vắng,oanh hờn,dầu dáng liễu
    Xuân về hương tỏa ngát lời Thơ
    Xuân nương,thi sĩ,đôi người ngọc,
    Dệt mộng ngày Xuân,lộng ý Thơ

    Lạc Nam


    5-Dĩ đề vi thủ


    Lấy 8 từ đầu để mở đầu cho 8 câu thơ


    Gửi Bạn

    Nhất sinh tôi bác biết nhau rồi,
    Ðịnh đoạt hơn thua phó mặc trời .
    Chúng mải công danh , ky cóp chạy,
    Ta nhìn mây nước nhẹ nhàng trôi.
    Theo quan,ngán bấy câu chè lá !
    Về xã ,buồn thay cảnh thịt xôi.
    Lê gậy theo trăng vào quán trọ,
    Ninh trà,nạp thuốc ,chuốc nhau chơi.

    Quả Ngôn

    Chú thích
    Lê Ninh (. - 1886) hiệu là Mệnh Khang người Hà Tĩnh .Hợp
    với quân Phan đình Phùng ở Hương Sỏn chống lại Pháp.


    6-Dĩ đề vi vận

    Lấy đầu đề làm vần

    Không Chồng Trông Bông Lông

    Xướng :

    Bực gì bằng gái chực phòng không
    Tơ tưởng vì chưng một tấm chồng,
    Trên gác rồng mây ngao ngán nhẽ,
    Bên trời cá nước ngẩn ngơ trông.
    Mua vui lắm lúc cười cười gượng,
    Giả dại nhiều khi nói nói bông.
    Mới biết có chồng như có cánh,
    Giang sơn gánh vác nhẹ bằng lông.

    Nguyễn Khuyến

    Họa Vận :

    Phật rằng sắc sắc không không ,
    Sắc sắc không không khó chất chồng.
    Ân oán,nhiều người còn có ngóng,
    Trải oan,lắm kẻ vẫn chờ trông.
    Thế gian,nhân quả nhanh như bóng,
    Cõi Phật,nhân duyên nhẹ tựa bông.
    Xuân đến hoa xuân tươi đẹp mãi,
    Luân hồi ra khỏi,hết bông lông.

    Cổ Lai Hy
    Quán Thơ Xóm Sâu Bò


    7-Toán thi

    Cả bài câu nào cũng có từ chỉ con số


    Bói Số

    Ruột rối bòng bong, một lá thuyền
    Ngổn ngang trăm mối vẫn y nguyên
    Người đi nghìn dặm còn thêm nhớ
    Kẻ ở muôn năm vẫn lẻ duyên
    Mớ hoảng, có kêu thời cũng hão
    Ức thầm, dẫu khóc chỉ thêm huyền
    Vạn người , ai kẻ chung tâm sự
    Hãy triệu giùm tôi chú đỗ quyên

    Bùi Tiến


    8-Liên hoàn

    Thể thơ có nhiều đoạn ,câu cuối của đoạn trên được chuyển thành câu đầu của đoạn dưới


    Thi Lấy Ðược

    Anh Phán nhà ta biết cóc gì
    Kỳ thi Tham biện cũng ra thi,
    Nhất thì anh đỗ,nhì anh trượt,
    Chẳng đậu khoa này,khoa khác đi.
    Chẳng đậu khoa này,khoa khác đi.
    Nam nhi chi chí,há lo gì,
    Một,hai,ba,bốn,năm năm trượt
    Nhẵn mặt quan trường,chẳng thẹn chi.

    Nhẵn mặt quan trường,chẳng thẹn chi.
    Trượt thi,thi trượt,vẫn gan lì.
    . . . .
    Tú Mỡ


    Lính Tập Vinh Qui

    Chú đội qua Tây thắng trận về,
    Cả nhà đón rước thật mừng ghê !
    Ông già,bà lão gồm hai cụ,
    Vợ giảnh,con ngoan đủ mọi bề,(1)
    Nảy ngực mề đay tiền bạc chói,
    Rạng mình khố đỏ áo vàng xuê.
    Giang sơn mày mặt càng tươi tốt,
    Bộ cất tay lên,ngó cũng nghề .(2)

    Bộ cất tay lên ngó cũng nghề,
    Miệng cười tróm trém,húi râu dê.(3)
    Xông pha trăm trận từng hăm hở
    Gánh vác hai vai ghẹo nặng nề !(4)
    Mở mặt Tiên Rồng dòng Ðại Việt,
    Nổi danh hùng hổ cõi Âu tê(5)
    Trong tình cảnh nọ dầu không vẻ,
    Văng vẳng dường nghe tiếng ắc-đê !(6)

    N.V.H


    Chú thích
    1-Vợ đẹp ( tiếng Nghệ)
    2-Có vẻ tay nghề
    3-Bộ râu xén như râu dê
    4-Dù công việc có nặng đến đâu cũng không sợ (tiếng Nghệ)
    5-Âu Tây.chữ tây,âm Hán có khi đọc là tê
    6-Phiên âm chữ Pháp :un,deux.Tiếng hô đi đều của lính tập.


    9-Liên hoàn thuận nghịch vận

    Thể thơ như trên ,nhưng bài thứ 2 viết ngược vần lại với bài thứ nhất


    Xem Núi Non Bộ

    Non nhân,nước trí,điểu muông hiền,
    Núi giả mà in dáng tự nhiên.
    Một vũng xinh xinh ,vươn một ngọn,
    Hai cầu nho nhỏ,vắt hai triền.
    Thuyền ngư lướt suối dong miền tục,
    Cánh hạc trườn mây bổng cõi tiên.
    Ðối cảnh tâm tư dường nhẹ nhõm,
    Lâng lâng chẳng bợn chút ưu phiền.

    Lâng lâng chẳng bợn chút ưu phiền.
    Bàn đá say cờ đôi lão tiên,
    Lã vọng buông câu vờn sóng nước,
    Phật đài mở lối lượn ven triền.
    Sỏn thanh thủy tú,hồn u nhã,
    Sắc lộng hương nùng ,khí hạo nhiên.
    Phong cảnh tạo hình như giới thiệu
    Chủ nhân đây cũng bậc nhân hiền.

    Lạc Nam

    10-Ô thước kiều

    Thể thơ liên hoàn như trên,nhưng lấy 2 từ cuối,hoặc nhắc lại 2,3 từ nào đó ở câu cuối của bài trên để mở đầu cho câu 1 của bài dưới

    Chống Tôn Thọ Tường

    Lung lay lòng sắt đã mang nhơ,
    Chẳng xét phận mình khéo nói vơ.
    Người trí mang lo danh chẳng chói,
    Ðứa ngu luống sợ tuổi không chờ.
    Bài hòa đã sẵn in tay thợ,
    Cuộc đánh hơn thua giống nước cờ.
    Chưa trả thù nhà,đền nợ nước,
    Dám đâu mắt lấp với tai ngơ

    Tai ngơ sao đặng lúc tan tành,
    Luống biết trách người,chẳng trách mình.
    Ðến thế còn khoe đàng đạo nghĩa,
    Như vầy cũng gọi kẻ trâm anh.
    Biển khơi vụng tính dung thuyền nhỏ,
    Chuông nặng to gan buộc chỉ mành.
    Thân có,ắt danh tua phải có,
    Khuyên người ái trọng cái thân danh.

    Thân danh chẳng kể,thật thằng hoang,
    Ðốt sáp nên tro lụy chẳng màng.
    Hai cửa trâm anh xô sấp ngửa,
    Một nhà danh giá xóa tan hoang.
    Con buôn khấp khởi chưa từng ngọc,
    Người khó xăng xăng mới gặp vàng.
    Thương kẻ đòng văn nên phải nhắc.
    Dễ đâu ta dám tiếng khoe khoang.

    Phan Văn Trị ( 1830-1910)


    11-Tập danh


    a-Trong mỗi câu có danh từ gắn với đề tài


    Mừng Ông Lão Hàng Thịt Ăn Thượng Thọ.

    Nay tiết mừng ông mới Bảy mươi,
    Cổ hy(1) chưa dễ mấy lăm người.
    Răng long nhưng hãy còn tinh mắt
    Ðầu bạc nhưng mà chửa tắc tai.
    Bè bạn bày vai kèo (2)chén Lý(3)
    Cháu con dưới gối múa sân Lai.(4)
    Xưa nay vẫn giữ lòng chân thực
    chữ đức giả xương máu để đời.

    Nguyễn Khuyến


    Chú thích
    1-Do câu " nhân sinh thất thập cổ lai hy " ,ngưòi ta sinh ra sống được 70 tuổi,xưa nay rất hiếm có
    2-Rót rượu mời người khác uống
    3-Chén rượu của Lý Bạch ,nhà thơ uống rượu nổi tiếng
    4-Lão Lai,người nước Sở đời Xuân Thu,tuổi đã ngoài 70 còn
    cha mẹ, giả cách khóc như trẻ con để làm cho cha mẹ vui

    b-Mỗi câu thơ có 1 từ chỉ bộ phận trong thân thể con người

    Học Trò

    Dài lưng tốn vải lại ăn no,
    Nghĩ ngán cho thân phận học trò.
    Thù nước,thù vua, ngay mặt chịu,
    Công sưu,công ích,cắm đầu lo !
    Vẫn giương mắt ếch mà ra quáng,
    Còn ngậm lông mèo chả sợ ho !
    Nói đến chuyện đời tai điếc đặc,
    Rung đùi,chỉ nghĩ " tám đùi " to !
    Nhì Mỹ


    Chú thích
    Ngậm lông mèo : ngậm bút chữ nho
    Tám đùi :văn xưa gọi là " bát cổ "dịch là tám vế,vế đồng nghĩa với đùi.


    12-Tính danh


    Câu nào cũng có từ chỉ nhân danh hay địa danh Giống như Ðiển Thi,câu nào cũng dẫn 1 điển ở bên Tàu.Xưa kia các cụ đồ nho chuộng lắm vì như thế các cụ mới chịu cho là có học,rộng kiến thức.


    Lỗi Thề
    Vùi oan bạc mệnh sóng Tiền Ðường (1)
    Ngọn đuốc Chiêm Thành(2) rở nhớ thương.
    Chắp cánh đẹp gì câu Thất Tịch (3)
    Ôm cầm say mãi gái Tầm Dương(4)
    Lỗi thề Chung Tử (5) sầu tri kỷ
    Hoen mái Tây hiên (6) lệ đoạn trường
    Hồ Hán (7) ngậm ngùi mây cách biệt
    Ngân Hà ( mưa gió nẻo cầu sương.

    Toại Khang


    Chú thích
    1: Kiều trầm mình ở sông Tiền Ðường
    2- Công chúa Huyền Trân phải sang lấy vua Chiêm Thành
    3- Ðường Minh Hoàng -Dương Quý Phi đêm 7 tháng 7 âm lịch thề cùng nhau "sống làm vợ chồng chết là chim liền cánh cây liền cành "
    4-Bạch Cư Dị,văn hào đời Ðường,đêm đậu thuyền ở sông Tầm
    làm bài Tỳ Bà Hành cho ca nữ hát
    5-Chung Tử Kỳ -Bá Nha là 2 bạn tri âm.Bá Nha gảy đàn,Tử Kỳ biết Bá Nha nghĩ gì.Tử Kỳ chết,Bá Nha đập đàn đi,không gảy nữa.
    6-Trương Quân Thụy-Thôi Oanh Oanh tình tự dưới mái Tây hiên
    7-Chiêu Quân nhà Ha&N sang cống Hồ
    8-Ngưu Lang-Chức nữ đùng 2 bên sông Ngân Hà nhớ nhau khóc
    thành mưa ngâu trong thábg 7 Âm lịch


    13-Sắc thái

    Câu nào cũng có từ chỉ màu sắc


    Chiều Nổi Mầu Thu

    Trời thu bóng ác rực mầu vang,
    Trườn trượt vào lưng dặng núi vàng.
    Cánh nhạn chiều tà sương lót trắng
    Chòm mây mưa nhạt khói mờ lam.
    Lầu thu thoát nắng nâng rèm tía,
    Vườn vắng còn đây nở đóa vàng.
    Nếu chẳng vương tìm hoa súng tím,
    Thì đâu được ngắm nguyệt da cam


    Toại Khang


    14-Thủ vĩ ngâm


    Thể thơ trong đó câu đầu và câu cuối giống nhau

    Khoe Lười

    Anh em chớ bảo ta lười,
    Làm việc cho hay phải thức thời.
    Xuân hãy còn chơi cho phỉ chí,
    Hạ mà cất nhắc tất nhoài hơi.
    Thu sang cảm nguyệt còn ngâm vịnh,
    Ðông lại hầm chăn tạm nghỉ ngơi.
    Chờ đến xuân sang ta sẽ liệu,
    Anh em chớ bảo ta lười .

    Tú Mỡ

    Ðèn Kéo Quân

    Lúng túng trong vòng mấy đứa đen,
    Nhờ khi đỏ lửa mới hay hèn.
    Nghênh ngang võng giá phô đồ giấy,
    Ðủng đỉnh dù che nép bóng đèn.
    Thằng trước thằng sau liền gót chạy,
    Anh trên anh dưới vểnh râu lên.
    Này ai say tỉnh nhìn xem thử,
    Lúng túng trong vòng mấy đứa đen .

    Khuyết Danh

    15-Triệt hạ


    Từ cuối của mỗi câu thơ để bỏ lửng làm cho câu thơ chưa trọn nghĩa,khiến người đọc phải nghĩ ra


    Gái Hồng Nhan

    Thấy gái hồng nha bỗng chốc mà . . .
    Hõi thăm cô ấy chửa hay đà . . .
    Hình dung yểu điệu in như thể . . .
    Diện mạo phương phi ngó tưởng là . . .
    Ăn mặc ra tuồng người ở chốn . . .
    Nói năng phải lẽ giống con nhà . . .
    Ước gì ta được mà ta để . . .
    Ta để đem về để nữa ta . . .

    Nguyễn Quý Tân

    16-Yết hậu

    Các câu trên đủ từ cả,riêng câu cuối cùng chỉ có 1 từ

    Rượu Say Nhè

    Sống ở nhân gian,đánh chén cay,
    Trăm năm ngày thác ,gi" be đầy.
    Diêm vương phán hỏi " Ai đó " ?
    Say ! "

    Sống ở nhân gian đánh chén khè ,
    Trăm năm ngày thác,gi" đầy be.
    Diêm vương phán hỏi " Ai đó " ?
    Nhè ! "

    Phạm Thái biệt hiệu Chiêu Ly

    17-Áp cú

    Từ cuối của câu trước trở thành từ đầu của câu sau

    Sang Canh

    Năm nảo năm nao cũng ước lành
    Lành,còn mong hết ? đón sang canh
    Canh trời thắc thỏm phương xin lộc
    Lộc nước lăm le khách vít cành.
    Cành lá đêm qua dù thiếu nụ
    Nụ đào xuân hé đẹp hơn tranh,
    Tranh đời mới lại màu hoa gấm
    Gấm vóc sơn hà lộng sắc xanh.

    Toại Khang

    Chừa Rượu

    Những lúc say sưa, cũng muốn chừa,
    Muốn chừa, nhưng tỉnh lại hay ưa,
    Hay ưa nên nỗi không chừa được,
    Chừa được, nhưng mà cũng chẳng chừa.

    Nguyễn Khuyến

    Cảm ơn

    Số người tham gia 1Thanks +1 Thu lại Lý do
    k3s1t1nh + 1

    Xem tất cả

  • Tâm trạng hàng ngày
    Tức giận
    16-4-2012 02:01 PM
  • Đã viết: 3 ngày

    [LV.2]Spam 2

    Đăng lúc 4-9-2010 01:05 PM | Xem tất
    Lậy chúa! vậy thì chẳng có bài nào của mình theo luật cả!
  • Tâm trạng hàng ngày
    Trầm cảm
    7-12-2011 02:37 PM
  • Đã viết: 8 ngày

    [LV.3]Spam 3

     Tác giả| Đăng lúc 4-9-2010 04:12 PM | Xem tất
    Trả lời 4# Mr.BeBiBo


        thì cứ xem như em đang làm theo thể.......thơ tự do đi có sao đâu hả bebibo ^^

    dẫu sao cũng là vui mà
    Đăng lúc 4-9-2010 04:19 PM | Xem tất
    thanks cho cái... nhưng mà em hỏi thật trả lời thật này, chị đã đọc mấy cái Luật làm thơ này chưa

    Đánh giá

    :)) chị đọc rồi nhưng đọc xong ứ hiểu gì hết =))  Đăng lúc 4-9-2010 04:24 PM
    Đăng lúc 5-9-2010 03:20 PM | Xem tất
    đánh dấu phát nè
    hihi, bài dài quá, để hôm sau rảnh ngồi đọc hết sau
    Đăng lúc 7-9-2010 01:30 AM | Xem tất
    Kể mà có ví dụ đi kèm thì hay nhỉ
    chị nhóc thêm cái note:
    thanh Bằng: là những chữ có dấu huyền và không dấu
    thanh Trắc: là những chữ có dấu sắc, dấu nặng, dấu ngã.
  • Tâm trạng hàng ngày
    Suy ngẫm
    2-1-2012 06:56 PM
  • Đã viết: 22 ngày

    [LV.4]Chém gió 1

    Đăng lúc 24-9-2010 06:12 PM | Xem tất
    làm đc kiểu thơ này anh chết liền
    có khi hứng ẳng đc 1 bài
    nhưng cũng không để ý luật lắm
    khi nào thử 1 bài coi sao
    ^^
    Bạn phải đăng nhập mới được đăng bài Đăng nhập | Đăng ký

    Quy tắc điểm

    Đóng

    Thông báoTrước /1 Sau

    Phòng tối|Lưu trữ|Diễn đàn Yên Bái 2024 Community Guidelines |

    GMT+7, 15-10-2026 06:50 PM , Processed in 0.026425 second(s), 23 queries .

    Powered by Discuz! X3.4

    © 2001-2013 Comsenz Inc.

    Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách