Mời bạn đăng ký để giao lưu kết bạn nhé <3
Bạn phải đăng nhập để xem được nội dung, nếu bạn chưa có tài khoản? hãy Đăng ký
x
Em vô tình đọc đc "Thuở bà đi chùa Hương" trên một tờ báo. Chỉ là một câu truyện ngắn thôi nhưng nó đã lôi cuốn và gây ấn tượng với em ngay từ những chữ đầu tiên, cách vào đề, cách xây dựng tình huống truyện rất nhẹ nhàng và sâu lắng, thêm nữa là ngôn ngữ trong truyện rất giản dị, tình cảm dạt dào, nhẹ nhàng nhưng có những câu khiến ng đọc phải suy ngẫm, không biết mọi ng đọc cảm giác thế nào, nhưng em cảm nhận đc một sự bức xúc trong chính lòng mình, tuy nhiên, cái bức xúc đó cũng rất nhẹ nhàng, bởi em hiểu, đó là cs, đó là cs và mình phải chấp nhận và học cách sống chung. Nếu một ngày, những bất cập cs đó thay đổi đc thì quá tốt, nhưng có lẽ điều đó là rất khó. Ai cũng hiểu, nhiều bất cập trong XH hiện nay là từ ý thức của ng dân, và cũng không ai không hiểu: thay đổi điều đó không phải là một việc dễ !
Dưới đây là "Thuở bà đi chùa Hương":
Thuở bà đi chùa Hương. chị mới chỉ là “cái Thuần tẹo của bà”.Giờ, chị đã là một “lương y như mẹ hiền” rồi. Nếu đi trên máy bay nhìn xuống, người ta thường hay ví vùng đấtnày kia như một cái đuôi con cá hoặc mõm con quái vật. Chị Thuần ví theo cáchriêng của chị. Vùng đất chùa Hương của bà và của chị trước sau vẫn là khuôn mặtcủa một cô gái hiền hậu, mà suối Yến kia là một bím tóc buông dài. Người ta cònnói và chị cũng thấy đúng: Tuyết Sơn và Linh Sơn kia chính là hai con mắt nhấpnháy từ mấy đời nay. Còn Thiên Trù lại là cái mũi thanh tú trên gương mặt tiêncủa người con gái ấy. Đang cữ Giêng Hai, may trời lại chưa mưa phùn. Mưa phùn mà đichùa Hương thì khổ. Năm nay và hình như càng về sau người đời khôn ngoan hơn, tínhdịp đi chùa Hường trước cả mưa phùn, không đổ dồn vào ngày Hội chùa. Tức thì cảsuối Yến và Thiên Trù như thức dậy, mở mắt ngơ ngác. Mái chèo vỡ nước vẫn như xưa.Thuyền san sát như lá. Thêm hai, ba chiếc xuồng máy dỗi tiếng âm âm vào nước, nặngvà trầm, mang nét riêng xứ sở chùa Hương. Váng dầu loang mặt nước. Vỏ bia lontrôi ngược trong đám lá khô từ bến chính xuống. Xe ô tô tập kết ở Bến Đục như những chú bọ của đất chùa từthuở xửa xưa. Mới tảng sáng, chúng đã đủ loại. Lối vào chùa Hương dạo này, khoảngcanh bốn, canh năm, hệt như đường Trường Sơn thuở chiến tranh. Đèn xe mờ tỏ quétthẳng làn mưa bụi. Có tiếng gà eo óc gáy. Thêm vào xe máy cũng bật đèn đi cạnh ôtô. Quãng hành hương này thật mới lạ. Càng đi sâu vào thì cái mới lạ này sẽ phảibiến đi, trả lại cho bước hành hương trầy trật bằng chân thuở xa xưa. Qua cầu phao, đến một địa điểm rất đông người, có barie chắnhẳn hoi, thò tay vào ô cửa bán vé rộng bằng hai viên gạch, mua vé đò mười nghìnđồng một người. Hai người là hai chục nghìn. Có lời dặn: “Vé khứ hồi, trọn góidu lịch rồi đấy.”. Nhịp điệu âm sắc kể cũng hiền, khác với phố xá. Đi. Hơi xa.Mỏi. Cứ nhắm mắt hướng đến những túm lá, tức là thuyền, đầu suối Yến. Chúng ta bây giờ đi mỏi, bà xưa đi có mỏi không bà? Bây giờcháu còn mua vé đi thuyền, xưa bà có phải mua không? Chẳng ai chèo không cho ngườiđi Hội, thời nào thì cũng có đồng tiền, vậy hồi ấy bà mua thế nào? Bà xếp sắp,tùng tiện thế nào để đến được Hội chùa Hương? Ông mất sớm, nhà nghèo, một mìnhnuôi cả đàn con, làm sao bà vẫn đến kịp Hội? Hồi ấy làm gì đã đầy đủ xe cộ và dịchvụ đi Hội như bây giờ. Nhưng đáng nói nhất là việc bà ở xa. Bà ở tận cái làng nhỏ cóvải Thiều, cam chua của đất Thanh Hà, Hải Dương xưa. Bà là cô gái Thanh Hà tầntảo. Có thể là bà và các bạn của bà đã chuẩn bị cho lần đi Hội chùa Hương từ rấtsớm. Chuẩn bị thầm trong lòng. Từ đi xe ngựa sớm lên huyện. Từ huyện đi xe rathị xã. Từ thị xã đi tầu xe về chùa Hương. Đến trăm nghìn dặm. Bà và các bạn bàthường đi bộ. Bà chuẩn bị những mấy bộ quần áo dài để lễ Chùa. Nghèo nhưng khôngthể sơ sài được. Bây giờ, cháu gái cả bà đặt chân lên Bến Đục, bước chân lêncon thuyền tròng trành… Mấy chục năm trước, nơi đây đã có dấu chân bà. Hôm ấy vàđi chắc đúng tiết mưa bụi. Đường đất, bậc đá chắc trơn hơn thời nay. Lối lên xuốngbến chắc bồi lở, hoang sơ hơn nhiều. Vậy mà bà không bị ngã. Chỉ một điều: ngườiđến Hội thì đông, chắc cũng chen vai thích cánh. Chắc đó là dạo… “Em đi chùa Hương/Hoa cỏ mờ hơi sương/ Quần lĩnh, áo the mới/ Tóc đuôi gà, vấn đầu soi gương…”. Bà bảo: Hôm ấy, khi chuẩn bị bước lên chiếc thuyền nào, đềuvọng lên từ xa tiếng “A di đà Phật” mời chào. Rồi khi lên thuyền, có người đỡ kẻdắt. Người già cả được nâng đỡ trọng vọng, không hề xô lấn, giành giật. Người đếnHội chùa là để tìm sự nhường nhịn, thanh cao. Bây giờ, ngay từ khi bước lên conthuyền Suối Yến đã thấy không giống như cái thời bà đi thuở ấy… Chị Thuần nghĩ đến bà nhiều nhất khi chị gặp một sự việc. Ấylà khi ghé đền Trình để rồi đi tiếp, trở lại thuyền, cái cậu nhỏ chèo thuyền chịđã “bùng” từ bao giờ. Có người bảo: “Bây giờ là vậy”. Có người xót xa: “Ai đời,ở xứ Phật trang nghiêm”. Chị cam lòng. Hẳn có linh hồn bà phù hộ, cô gái láithuyền đứng kề đó thương chị, nhận chở chị đi tiếp. Nhưng thuyền này đã có bangười thuê trước, hai nam một nữ. Dáng họ rất lịch sự. Khi chị đã ngồi lên thuyền,cô lái thuyền tốt bụng che chở, thì ba người kia ra mặt không chịu. “Chỉ có ba,không thêm một ai.”. Cô lái thuyền đáng thương vật nài, họ cự tuyệt. Chị Thuầnđành bước lên khỏi thuyền. Con thuyền đi khuất hẳn vào Bến Đục. Bà nhỉ, người xưađến Hội chùa Hương chắc không ích kỷ như vậy? Bà bảo: Hội chùa Hương có gậy trúc vàng rất đẹp. Đi chùa Hươngvề thường ai cũng đem theo cây gậy chống suốt tuổi già. Với cây gậy trúc ấy, bàleo từng bậc đá, hành hương qua chùa Giải oan, đền Mẫu, lên tận chùa Chính. Bà đikhông vội vã hấp tấp, bà ở đây những một tuần lễ kia. Điều làm bà nhớ nhất là điđến đâu cũng nghe vọng tiếng “A di đà”. Mỗi chặng dốc cao, nghỉ lại, thường cóngười đến đỡ và đón. Mùi hương thơm thuần hậu. Bà ra sau đền Mẫu có cái giếngTrời, tiếng truyền là cái bầu vú sữa. bà hứng vào chai để về cho các cháu uống.Bà lên được tận chùa Chính, bước vào động mờ tỏ, thắp hương khấn trời Phật phùhộ xóm làng bằng an, con cháu khở mạnh. Xưa già vậy, bà vẫn lên được chốn tận cùngcủa xứ sở chùa Hương. Bà xin được tấm áo Phật, về cài vào áo của mỗi đứa cháu sợivải điều lấy từ áo ấy để lấy may. Bà ơi, sao ngày xưa bà đi chùa Hương thật bìnhtâm, thanh khiết và đem về cho cháu được bao nhiêu điều lành. Bây giờ, chùa Hươngvẫn đấy, Suối Yến vẫn kia, cháu đã khôn và lớn, đồng tiền hẳn khá hơn bà xưa, màđến chùa Hương về lại không nhập cõi Thiền được như bà xưa, không thâu lượm đượcnhư bà? Sương khói giăng mờ Bến Đục. Người nay vẫn hành hương nườm nượp.Phần nhiều có cầm ở tay cây gậy tre còi, gầy và thô. Đi xăm xăm. Không nghe mộttiếng “A di đà”. Đến chùa Hương, càng nhớ bà và cái ngày bà đi Hội chùa Hương… Người hành hương đông quá, xô lấn, khó lòng vào được những nơichính. Chị Thuần đành đứng từ nơi xa, chắp hai tay mà khấn: “Con lạy đức Phật từbi. Bà con xưa đã đến Hội chùa Hương”. Nghe nói, ai có ông, bà, cha mẹ đã tìm đếnHội, thì khai báo với Phật, Phật sẽ phù hộ… |